ログイン

8 Sinh lý các dịch cơ thể 🆗
23問 • 1年前
  • An nguyen xuan
  • 通報

    問題一覧

  • 1

    Đại cương - nước trong dịch cơ thể 45-75% - nước chỉ 10% trong mô mỡ - nước nữ <nam , già <trẻ -70kg, có tỷ lệ nước là 60% trọng lượng cơ thể, nghĩa là có khoảng 42 lít - Dịch nội bào: 40% trọng lượng cơ thể; 28 lít nước. - Dịch ngoại bào gồm: + Dịch kẽ: 15% trọng lượng cò thể; 10,5 lít nước. + Huyết tương: 5% trọng lượng cơ thể; 3,5 lít nước.

    z

  • 2

    1. Thành phần của dịch nội bào và dịch ngoại bào -1 phút có 70% huyết tương trao đổi với dịch kẽ - khác duy nhất protein huyết tương cao 🆗 dịch ngoại bào - nhiều natri và clo - ít kali , calxi , magie - điều hoà đặc biệt bởi thận 🆗 nội bào -dịch nội bào tất cả tế bào đều giống nhau - nhiều kali - không có calxi - ion clo và bicarbonat thấp hơn ngoại bào - protein gấp 4 lần huyết tương - do bơm Na-K atp và màng âm bên đẩy cl- và Hco3- ra ngoài - ion khác từng loại tế bào : na trong hồng cầu nhiều 🆗 cả 3 loại dịch có áp suất thẩm thấu bằng nhau

    x

  • 3

    2.1. Thành phần của huyết tương - huyết tương là dịch lỏng của máu ( đã loại thành phần hữu hình ) - huyết thanh là huyết tương loại đi yếu tố đông máu -một lít huyết tương của ngưòi bình thường có khoảng 930 gam nước và 70 gam các chất hoà tan, trong đó có 60 gam protein; 8g các ion vô cơ như natri, kali, clo, bicarbonat; 2 gam các chất hữu cơ khong phải protein như glucose, lipid.

    x

  • 4

    2.2. Chức năng của các protein huyết tương - các protein huyết tương gồm 3 loại albumin, globulin (a1 , a2, b1, b2 và y) và Fibrinogen . 🆗 vai trò chung - dự trữ acid amin - chất mang - chất đệm - đông máu - tạo áp suất keo Áp suất thẩm thấu là do các chất hoà tan tạo nên như điện giải , ure , glucose : 5550 mmHg hay 7.3 atm tưởng ứng 99,5% áp suất thẩm thấu toàn phần Áp suất keo chỉ tạo ra 28mmHg tương ứng 0,5% - dung dịch có cùng áp suất thẩm thấu với huyết tương được gọi là dịch đẳng trương. Dung dịch có áp suất thẩm thấu cao hơn áp suất của huyết tương là dung dịch ưu trương. Dung dịch có áp suất thẩm thâu thấp hơn của huyết tương là dung dịch nhược trương, cả ba loại dịch huyết tương, dịch kẽ và dịch nội bào đều cân bằng thẩm thấu. 🆗 albumin - 60% pro toàn phần - phân tử nhỏ(69k dalton ) , số lượng nhiều , tạo 80% áp suất keo - vai trò chất mang thuốc (barbiturat, penicillin); sắc tố (bilirubin urobilin); hormon (thyỷoxin) 🆗 globulin - chiếm 40% -a1 globulin : 4% a2 - globulin : 8% B1 globulin : 7% B2- globulin : 4% Y- globulin : 17% - a1 tạo HDLC -a2 gồm haptoglobin (gắn với hemoglobin tự do trong huyết tương khi có hiện tượng vỡ hồng cầu), prothrombin, erythropoietin và angiotensinogen. - b1 tạo LDLC - y globulin là globulin miễn dịch kháng thể IGA , G , M ,D, E (99% là GAM ) 🆗 tỷ lệ A/G - A/G bình thường = 2 - khi viêm nhiễm, Albu giảm , globulin tăng Dẫn đến A/G giảm nhưng nồng độ pro vẫn bình thường 🆗 fibrinogen - do gan sản xuất - Fibrinogen tan , fibrin không tan

    x

  • 5

    3. Dich kẽ -15% trọng lượng cơ thể, 10,5 lít. -phụ thuọc vao câu tạo của thành mao mạch và những lực tác dụng lên thành mao mạch, 🆗 áp suất mao mạch - đẩy nước vào khoảng kẽ - tận cùng tiểu động mạch là 30mmHg - tận cùng tiểu tĩnh mạch 10mmHg 🆗 áp suất keo huyết tương - hút nước từ khoảng kẽ vào mao mạch - là 28mmHg 🆗 áp suất keo dịch kẽ - tạo bởi 1 số pro nhỏ qua được lỗ mao mạch (2g/dL ) - là 8mmHg 🆗 tổng lực đẩy nước khỏi mao mạch đầu tiểu động mạch Có 3 lực - áp suất mao mạch 30 - áp suất âm dịch kẽ -3 - áp suất keo dịch kẽ 8 🆗 tóm lại - ở đầu tiểu động mạch , dịch bị đẩy ra dịch kẽ với áp suất 13mmHg - ở đầu tiểu tĩnh mạch, dịch trở lại máu từ dịch kẽ bởi áp suất 7mmHg -9/10 được tái hấp thu , 1/10 chảy ở bạch mạch

    x

  • 6

    4. Dịch bạch huyết Dịch bạch huyết là dịch kẽ chảy vào hệ thống bạch mạch. Hệ bạch mach sẽ đưa bạch huyết trở về máu tĩnh mạch qua ống ngực và ông bạch huyêt phai

    x

  • 7

    4.2. Cấu tạo của các mao mạch bạch huyết Hầu hết dịch lọc từ mao động mạch vào khoảng kẽ tế bào sẽ được tái hấp thu trở lại qua mao tĩnh mạch. Khoảng 1/10 lượng dịch lọc sẽ chảy vào mao mạch bạch huyết rồi theo hệ bạch mạch trở về máu tuần hoàn. Tuy lượng dịch lưu thông trong hệ bạch huyết rất nhỏ nhưng nó đóng vai trò quan trọng vì các phân tử protein không thể tái hấp thu vào các mao tĩnh mạch nhưng lại dễ dàng đi vào mao mach bach huyết. Câu trúc mao mach bach huyết này có câu trúc đặc biệt như sau:​• - Các tế bào nội mô của mao mạch bạch huyết gắn vối các mô liên kết ở xung quanh bằng những sợi dây neo. - Ở chỗ nối giữa hai tế bào nội mô liền kề nhau, cạnh của tế bào này thường chụp lên cạnh của tế bào kia tạo ra một van nhỏ mở vào phía trong của mao mach như vây dịch kẽ và các phân tư lớn như protein hoặc vi khuân có thê đẩy van này vào phía trong và chảy vào mao mạch bạch huyết. Một khi đã vào mao mạch bạch huyết rồi, dịch kẽ không thể chảy ra được nữa vì dòng chảy ngược sẽ làm đóng nắp van

    x

  • 8

    4.2. Cấu tạo của các mao mạch bạch huyết 4.1. Thành phần Thành phần của dịch bạch huyết tương tự như thành phần của dịch kẽ. Nồng độ protein trong dịch kẽ của hầu hết các mô vào khoang 2g/dl, nồng độ protein trong dịch bạch huyết bắt nguồn từ những mo này cung bằng 2g/dL. Tuy nhiên, bạch huyêt cua gan có nồng độ protein rất cao (6g/dL), bạch huyết của ruột có nồng độ protein là 3 đến 4 g/dL. Khoảng 2/3 bach huyết trong ống ngực là 3 đến 5 g/dL. Hệ thông bạch huyêt cũng là một​trong những​con​đưòng​chủ yếu​để​hấp thu các chât dinh dưõng từ ông tiêu hóa,​đặc​biệt là​hấp​thu​mỡ (xem​chương sinh ly tieu hoa). Sau một bữa ăn nhiều mỡ, bạch huyết ông ngực có thể chứa tới 1 đên 2% mơ. Ngoai ra, một sô phân tử lốn ví dụ vi khuẩn cũng có thể chui qua khe hơ giưa cac te bào nội mạc của mao mạch bạch huyết để đi vào bạch huyết. Khi bạch huyet chay qua các hạch, bạch huyết, các phần tử này bi giữ lại và bị phá huỷ. Bạch cầu lympho đi vào hệ thống tuần hoàn chủ yếu qua đưòng bạch huyết vì vậy có một ty lệ nhất định loại bạch, cầu này trong bạch huyết ông ngực.

    x

  • 9

    4.3. Lưu lương bạch huyết ở một người đang nghỉ ngơi, lưu lượng bạch huyết vào khoảng 120 mỉ/giờ, nghĩa là bằng 1/120.000 tốc độ khuếch tán của dịch qua mao​mạch,​Lưu​lượng bạch huyêt chịu ảnh hưởng của hai yếu tố: áp suất dịch​kẽ​và​hoạt​đọng cua bơm bạch huyết. 4.3.1. Ảnh hưởng của áp suất dịch kẽ Áp suất dịch kẽ càng tăng thì lưu lượng bạch huyêt càng tăng. Vì vậy, các yếu tô' làm tăng áp suất dịch kẽ sẽ làm tăng lưu lượng bạch huyêt, đó là: - Tăng áp suất mao mạch. - Giảm áp suất keo của huyết tương. - Tăng nồng độ protein trong dịch kẽ. - Tăng tính thấm của thành mao mạch. 4.3.2. Ảnh hưởng của bơm bạch huyết - Các tế bào nội mô của mao mạch bạch huyết chứa các sợi actomyosin làm cho các mao mạch bạch huyết co bóp theo nhịp. - Sự co bóp của thành ống bạch mạch. - Các yếu tô" bên ngoài ép lên mạch bạch huyết như sự co cơ, sự vận động các phần của cơ thể, mạch đập, các vật ỏ bên ngoài cơ thể ép lên các mô.

    x

  • 10

    4.4. Chức năng của hệ bạch huyết Hệ bạch huyết hoạt động như một cơ chế bổ trợ để đưa trở lại hệ thống tuần hoàn một lượng dịch cùng với một ít protein từ các khoảng kẽ. Vì vậy, hệ thông bạch huyết đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát nồng độ protein trong dịch kẽ, thể tích dịch kẽ và áp suất dịch kẽ. Sự kiểm soát này được tiến hành theo cơ chế điều hoà ngược như sau: một số phân tử protein thoát qua các lỗ của thành mao mạch vào dịch kẽ. Cac protein này tích lại trong dịch kẽ làm tăng áp suất keo của dịch kẽ và kéo dịch từ mao mạch vào dịch kẽ, kết quả là cả thể tích và áp suất trong dịch kẽ đều tăng lên. Sự tăng của thể tích và áp suất dịch kẽ làm tăng lưu lượng bạch huyết để lấy đi những phân tử protein ứ lại ở dịch kẽ cùng với khối lượng dịch thừa ra trong khoảng kẽ.

    x

  • 11

    5. Dịch não tuỷ

    x

  • 12

    5.1. Nhắc lại vể giải phâu (hình 8.2) Toàn bộ các khoang bao quanh não và tuỷ có thể tích từ 1.600 đến 1.700 ml. Dịch não tuy chiếm 150 ml của thể tích này. Phần còn lại là não va tuy Dịch não tuy khu trú trong các não thôt, trong các bể chứa quanh não, trong khoang dưối nhện bao quanh cả nỗo và tuỷ. Các buồng này đều thông vói nhau và áp suất dịch não tuỷ được điều hoà để giữ ở mức hăng định. Dịch não tuỷ được sản xuất với tốc độ 500 ml/ngày, tức là nhiều gấp 3 đến 4 lần thể tích dịch não tuỷ. Khoảng 2/3 lượng dịch này được bài tiết từ các đám rốì mạch mạc (choroid plexus) khu trú trong các não thất, chủ yếu là hai não thất bên. Một số dịch não tuỷ được bài tiết từ các bề mặt màng não thất và màng nhện. Bản thân não cũng bài tiết một ít dịch não tuỷ qua các khoang quanh mạch. Sau khi được bài tiết từ các đám rôi mạch mạc ở hai não thất bên và não thất III, dịch đi theo cống Sylvius vào não thất IV. Sau khi được bổ sung thêm một ít dịch nữa, dịch não tuỷ rời não thất IV qua các lỗ Luschka và Magendie vào bể chứa lớn (cysterna magna) nằm sau hành não và ở dưới tiểu não. Từ bể chứa lón, gần như toàn bộ dịch não tuỷ chảy lên trên qua khoang dưối nhện bao quanh não. Từ đây dịch chảy vào vô số nhung mao màng nhện rồi qua các nhung mao này đổ vào máu tĩnh mạch của xoang tĩnh mạch dọc và các xoang tĩnh mạch khác.

    x

  • 13

    5.2. Sự bài tiết dịch não tuỷ ở cấc đám rối mạch mạc Đám rối mạch mạc là sự phát triển của các mạch máu giống như hình hoa lơ và được bao phủ bằng một lớp tế bào biểu mô. Đám rối mạch mạc trồi vào sừng thái dương của các não thất bên, vào phần sau của não thất III và vào mái của não thất IV. Sự bài tiết dịch ở đám rối mạch mạc diễn ra như sau: ion natri được vận chuyển tích cực từ máu qua các tê bào biểu mô vào dịch não tuỷ. Ion clo đi theo ion natri để trung hoà điện tích. Nước khuếch tán theo các ion này vào dịch não tuỷ để cân bằng ap suất thẩm thấu. Ngoài ra, một lượng nhỏ glucose cũng được vận chuyển vào dịch não tuỷ. Ngược lại, ion kali và ion bicarbonat được vận chuyển từ dịch não tuỷ vào mao mạch.

    x

  • 14

    5.3. Sự hấp thu của dịch não tuỷ qua nhung mao màng nhện Nhung mao màng nhện là những cấu trúc rất nhỏ của màng nhện. Các nhung mao gom lại thành những đám lớn gọi là những hạt màng nhện troi vào bên trong các xoang tĩnh mạch. Các tế bào biểu mô bao phủ nhung mao có những hôc khá rộng xuyên qua thân tê bào để cho dịch não tuy, các phân tư protein và ngay cả một số tế bào như hồng cổu, bạch cầu có thể đi qua đế vào máu tĩnh mạch.

    x

  • 15

    5.4. Các khoang quanh mạch và dịch não tuỷ Các mạch máu lúc đầu đi trên bề mặt của não rồi xuyên vào bên trong não mang theo lớp màng nuôi cùng với chúng. Màng nuôi chỉ dính vào các mạch máu một cách lỏng lẻo, do đó giữa mạch máu và màng nuôi có một khoang gọi là khoang quanh mạch. Màng nuôi đi theo các mạch máu đến tận các tiểu động mạch và tiểu tĩnh mạch. Các mao mạch não không có màng bao quanh. Các khoang quanh mạch đóng vai trò như một hệ bạch huyết của não. Một số nhỏ protein thoát khỏi các mao mạch của nhu mô vào khoảng kẽ của mô. Trong mô não không có các mạch bạch huyết, vì vậy các protein này cùng với dịch kẽ của não chảy ra các khoang quanh mạch để vào khoang dưới màng nhện. Tại đây, protein cùng với dịch não tuỷ được hấp thu qua các nhung mao màng nhện vào máu tĩnh mạch. Khoang quanh mạch cũng làm nhiệm vụ vận chuyển các chất ngoại lai từ não vào các khoang dưới nhện để được hấp thu vào máu, ví dụ khi não bị viêm, các bạch cầu chết, các mảnh mô tổn thương được mang khỏi não qua các khoang quanh mạch.

    x

  • 16

    5.5. Tính chất và thành phần dịch não tuỷ Dịch não tuỷ không màu, trong vắt, sô" lượng dao động trong khoảng từ 60 đến 150 ml. Tỷ trọng từ 1,001 đến 1,010; pH từ 7,3 đến 7,4. Nồng độ protein từ 15 đến 22 mg/dl; nồng độ glucose thấp hơn của huyết tương khoảng 30% (2,8 đến 4,2 mmol/lít). về các chất điện giải: nồng độ ion natri tương đương với nong độ natri huyết tương; nồng độ ion clo cao hơn 15%; nồng độ ion kali thấp hơn 40%. Dịch não tuỷ hầu như không có tế bào, chỉ có khoảng 1 đến 3 bạch cầu lympho/mm3 dịch và một vài tế bào nội mô.

    z

  • 17

    5.6. Áp suất dịch não tuỷ Bình thường áp suất dịch não tuỷ ở tư thế nằm là từ 100 đến 150 mmH20 Ở tư thế ngồi, áp suất này tăng thêm khoảng 10 đến 50 mmH20. Áp suất dich não tuỷ được điều hoà thông qua sự hấp thu của dịch qua nhung mao màng nhên VI toc đọ Sân xuầt dịch 113.0 tu.y Ỉ3 hãng đinh. Hơn nUă các nhung 1T1&0 host động như những van chỉ cho phép dịch não tuỷ chảy vào máu tĩnh mach ma không theo hướng ngược lại. Bình thường, khi áp suất dịch não tuy cao hơn áp suất trong xoang tĩnh mạch khoảng 1,5 mmHg thì van sẽ mỏ ra cho dịch não tuỷ chảy vào xoang. Khi áp suất dịch não tuỷ tăng lên nữa thì các van sẽ mở ra rât rọng. Vi vậy, trong những điêu kiện bình thường áp suất dịch não tuỷ không bao giò chênh lệch quá nhiều so với áp suất ở xoang tinh mạch. Một sô" tình trạng bệnh lý làm tăng áp suất dịch não tuỷ như u não, chảy máu hoặc nhiêm khuân trong hộp sọ. u não ngăn cản sự lưu thông của dịch não tuỷ đi lên phía trên qua khoang dưới màng nhện, do đó sự hấp thu dịch não tuỷ qua nhung mao màng nhện bị giảm hoặc không xảy ra được. Trong chảy máu hoặc nhiêm trùng hộp sọ, sự xuất hiện đột ngột của một số lượng lớn tê bào trong dịch não tuỷ có thê làm tắc các kênh vận chuyển bên trong tê bào biểu mô của nhung mao màng nhện. Khi đó áp suất dịch não tuỷ có thể tăng lên đến 400 hoặc 600 mmH20.

    z

  • 18

    5.7. Chức năng của dịch não tuỷ Chức năng quan trọng nhất của dịch não tuỷ là lót đệm cho não ở bên trong hộp sọ cứng. Não và dịch não tuỷ có cùng tỷ trọng do đó não nổi lên trong dịch. Nêu bị một cú đập vào đầu, nhờ có dịch não tuỷ, toàn bộ não chuyển động đồng thòi với hộp sọ và không có phần nào của não bị biến dạng do cú đập này. Dịch não tuỷ cũng đóng vai trò của một bình chứa để thích nghi với những thay đổi thể tích của hộp sọ: nếu thể tích não hoặc thể tích máu tăng lên một lượng dịch não tuỷ tương đương sẽ được tái hấp thu thêm. Nếu thể tích não giảm, thể tích của dịch não tuỷ sẽ tăng lên. Trong một chừng mực nào đó dịch não tuỷ cũng là nơi trao đổi chất dinh dưỡng của hệ thần kinh. Tuy nhiên, phần lốn quá trình trao đổi chất của não được thực hiện trực tiếp với máu.

    z

  • 19

    5.8. Hàng rào máu - dịch não tuỷ và hàng rào máu - não Thành phần của dịch não tuỷ không giống thành phần của dịch ngoại bào. Nhiều chất có phân tử lớn rất khó đi vào dịch não tuỷ hoặc vào dịch kẽ của não cho dù những chất này có thể đi vào các khoảng kẽ ở các nơi khác của cơ thể. Đó là do sự có mặt của hai loại hàng rào: hàng rào máu-dịch não tuỷ ngăn cách giữa máu và dịch não tuỷ; hàng rào máu-não ngăn cách giữa máu và dịch kẽ của não. Hàng rào máu-dịch não tuỷ ở các đám rối mạch mạc. Hàng rào máu - não chính là thành các mao mạch não ở hầu hết các vùng của nhu mô não, trừ một sô vùng của hypothalamus, tuyến tùng, vùng postreraa. Tại những vùng này các chất khuếch tán dễ dàng vào khoảng kẽ. Điều này rất quan trọng vì tại đây có rất nhiều receptor cảm giấc đáp ứng với những thay đổi trong các dịch của cơ thể (ví dụ, sự thay đổi nồng độ của glucose/máu). Các đáp ứng này cung cấp những tín hiệu cho sự điều hoà ngược để đưa các yếu tô' trở lại giá trị bình thường. Nhìn chung, hàng rào máu-dịch não tuỷ và hàng rào máu-não có tính thấm cao với nước, CcCoxy và hầu hết với các chất điện giải (natri, clo, kali) và hầu như không thấm với protein và các phân tử hữu cơ không hoà tan trong mỡ. Cac hàng rào này ngăn cản sự thấm vào dịch não tuỷ hoặc vào nhu mo não nhiều loại thuốc điều trị như các kháng thể, các thuốc không hoà tan trong mõ.

    z

  • 20

    6. Dịch nhân cầu 🆗 2 loại : thuỷ dịch và thuỷ tinh thể Dịch nhãn cầu nằm trong ổ mắt và giữ cho ổ mắt căng phông. Dịch nhân cầu gôm hai loại: thuỷ dịch nằm ở phía trước và hai bên của thuỷ tinh the; thuy tinh dịch nằm giữa thuỷ tinh thể va võng mạc. 🆗 lưu thông Thuỵ dịch là dịch lưu thông tự do trong khi thuỵ tinh dịch là một khối gelatin hầu như không lưu thông nhưng các chất có the khuêch tán trong thuỷ tinh dịch một cách chậm chạp. Thuỷ dịch liên tục được sản xuất ra và được tái hấp thu. Sự cân bằng giữa hai quá trình này điều hoà thể tích và áp suất của dịch nhãn cầu. Thuỷ dịch được sản xuất ở nếp thể mi (ciliary processes) với tốc độ 2 đến 3 microlít/phút. 🆗 Nếp thể mi là những nếp gấp từ thể mi lồi vào khoang sau mống mắt, nơi các dây chằng của thuỷ tinh thể và các cơ thể mi gắn vào nhãn cầu. Bề mặt toàn bộ của nếp thể mi vào khoảng 6 cm2, được bao phủ bởi những tế bào biểu mô bài tiết và ngay bên dưới nếp thể mi là một mạng lưới mạch máu phong phú 🆗 . QŨá trình bài tiết thuỷ dịch diễn ra như sau: đầu tiên ion natri vận chuyển tích cực vào các khoang giữa các tế bào biểu mô kéo theo sự khuếch tán của ion clo và ion bicarbonat để trung hoà điện tích. Sự vận chuyển của các ion này tạo

    z

  • 21

    6.1. Quá trình sản xuất thuỷ dịch (hình 8.3) ít thuỷ dịch ra lực thẩm thấu hút nước từ các mô lân cận vào các khoang giữa các tế bào biểu mô. Từ đây dịch chảy vào bề mặt của nếp thể mi. Một sô chất dinh dưỡng như acid amin, acid ascorbic và glucose cũng được vận chuyển qua tế bào biểu mô theo cơ chế vận chuyên tích cực hoặc khuếch tán tăng cường.

    z

  • 22

    6.2. Thuỷ dịch chảy ra khỏi mắt như thế nào? Sau khi đươc sản xuất ở nếp thể mi, thuỷ dịch chảy giữa các dây chằng của thuỷ tinh the rồi qua đồng tử vào tiền phòng. Từ tiền phòng thuỷ dịch chay vào góc giữa giác mạc và mống mắt rồi qua một mạng lưới các cột (trabeculae) để vao kênh Schlemm, kênh này đố vào tĩnh mạch ngoài nhằn cầu Kênh Schlemm là một tĩnh mạch có thành mỏng, màng nội mô co nhiều lỗ nên protêin và các chất có kích thước lớn băng hồng cầu cũng có thể qua được thành đe vào kênh Schlemm. Downloadsachyhoc.com &K dovvnload sách y học Mặc dù kênh Schlemm là một tĩnh mạch nhưng vì có quá nhiều thuỷ dịch đổ vào kênh nên kênh chứa đẩy thuỷ dịch. Các tĩnh mạch nhỏ nối kênh Schlemm với các tĩnh mạch lớn hơn cũng chi chứa thuỷ dịch và được gọi là “tĩnh mạch nước”. Thuỷ dịch chảy ra khỏi mắt với tốc độ 2,5 microlít/phút, bằng tốc độ bài tiết thuỷ dịch ở nếp thể mi.

    z

  • 23

    6.3. Áp suất nhãn cầu 6.3. Áp suất nhãn cầu Bình thưòng áp suất nhãn cầu vào khoảng 15 mmHg, dao động trong khoảng từ 12 đến 20 mmHg. Khi áp suất nhãn cầu tăng lên quá giới hạn bình thường, tốc độ chảy của thuỷ dịch vào kênh Schlemm sẽ tăng lên. Bệnh tăng nhãn áp (glaucoma): bệnh tăng nhãn áp là một trong những nguyên nhân gây mù. Nhãn áp có thể tăng rất cao một cách đột ngột hoặc tăng dần dần trong một thời gian dài làm bệnh nhân bị mù. Nhãn áp tăng cao ép vào dây thần kinh thị giác và động mạch võng mạc tại đĩa thị giác. Sự chèn ép này làm các nơron thần kinh bị huỷ hoại và làm giảm dinh dưỡng của võng mạc. Nhãn áp tăng là do sự ngăn cản dòng chảy của thuỷ dịch từ góc giác​mạc​- mông mắt qua các lỗ nhỏ (đường kính 2 đến 3 um) của mạng lưới​cột​để​vào kênh Schlemm. Trong các trường hợp viêm nhiễm cấp tính ở mắt, các bạch cầu và các mảnh vụn của mô có thể làm tắc những lỗ nhỏ này, thuỷ dịch bị ứ lại và nhãn áp tăng lên. Trong các bệnh mạn tính đặc biệt ở ngưòi già, các lỗ nhỏ thưòng bị tắc do xơ hóa.

    z

  • Cơ chi trên

    Cơ chi trên

    An nguyen xuan · 28問 · 1年前

    Cơ chi trên

    Cơ chi trên

    28問 • 1年前
    An nguyen xuan

    1.1 NỘI ôn khó nhớ ** sách, chat gpt

    1.1 NỘI ôn khó nhớ ** sách, chat gpt

    An nguyen xuan · 103問 · 11ヶ月前

    1.1 NỘI ôn khó nhớ ** sách, chat gpt

    1.1 NỘI ôn khó nhớ ** sách, chat gpt

    103問 • 11ヶ月前
    An nguyen xuan

    2 NHI :ôn khó nhớ ** chép ( đánh dấu * vào bệnh có TCCD hoặc phân loại )

    2 NHI :ôn khó nhớ ** chép ( đánh dấu * vào bệnh có TCCD hoặc phân loại )

    An nguyen xuan · 70問 · 11ヶ月前

    2 NHI :ôn khó nhớ ** chép ( đánh dấu * vào bệnh có TCCD hoặc phân loại )

    2 NHI :ôn khó nhớ ** chép ( đánh dấu * vào bệnh có TCCD hoặc phân loại )

    70問 • 11ヶ月前
    An nguyen xuan

    Tiếng anh thân bài

    Tiếng anh thân bài

    An nguyen xuan · 27問 · 1年前

    Tiếng anh thân bài

    Tiếng anh thân bài

    27問 • 1年前
    An nguyen xuan

    từ mới

    từ mới

    An nguyen xuan · 100問 · 1年前

    từ mới

    từ mới

    100問 • 1年前
    An nguyen xuan

    tiếng anh tổng quát

    tiếng anh tổng quát

    An nguyen xuan · 53問 · 1年前

    tiếng anh tổng quát

    tiếng anh tổng quát

    53問 • 1年前
    An nguyen xuan

    2 đại cương về cơ thể sống và hằng tính nội môi

    2 đại cương về cơ thể sống và hằng tính nội môi

    An nguyen xuan · 9問 · 1年前

    2 đại cương về cơ thể sống và hằng tính nội môi

    2 đại cương về cơ thể sống và hằng tính nội môi

    9問 • 1年前
    An nguyen xuan

    3 sinh lý tế bào - trao đổi chất qua tế bào

    3 sinh lý tế bào - trao đổi chất qua tế bào

    An nguyen xuan · 30問 · 1年前

    3 sinh lý tế bào - trao đổi chất qua tế bào

    3 sinh lý tế bào - trao đổi chất qua tế bào

    30問 • 1年前
    An nguyen xuan

    4 sinh lý điện thế màng và điện thế hoạt động 🆗

    4 sinh lý điện thế màng và điện thế hoạt động 🆗

    An nguyen xuan · 15問 · 1年前

    4 sinh lý điện thế màng và điện thế hoạt động 🆗

    4 sinh lý điện thế màng và điện thế hoạt động 🆗

    15問 • 1年前
    An nguyen xuan

    🆗 5 sinh lý chuyển hoá chất và năng lượng

    🆗 5 sinh lý chuyển hoá chất và năng lượng

    An nguyen xuan · 26問 · 1年前

    🆗 5 sinh lý chuyển hoá chất và năng lượng

    🆗 5 sinh lý chuyển hoá chất và năng lượng

    26問 • 1年前
    An nguyen xuan

    6 sinh lý điều nhiệt 🆗

    6 sinh lý điều nhiệt 🆗

    An nguyen xuan · 11問 · 1年前

    6 sinh lý điều nhiệt 🆗

    6 sinh lý điều nhiệt 🆗

    11問 • 1年前
    An nguyen xuan

    phân loại- điều trị Và liều Thuốc

    phân loại- điều trị Và liều Thuốc

    An nguyen xuan · 31問 · 1年前

    phân loại- điều trị Và liều Thuốc

    phân loại- điều trị Và liều Thuốc

    31問 • 1年前
    An nguyen xuan

    số liệu chương 5

    số liệu chương 5

    An nguyen xuan · 6問 · 1年前

    số liệu chương 5

    số liệu chương 5

    6問 • 1年前
    An nguyen xuan

    số liệu tập 2

    số liệu tập 2

    An nguyen xuan · 20問 · 1年前

    số liệu tập 2

    số liệu tập 2

    20問 • 1年前
    An nguyen xuan

    7 Sinh lý máu 🆗

    7 Sinh lý máu 🆗

    An nguyen xuan · 31問 · 1年前

    7 Sinh lý máu 🆗

    7 Sinh lý máu 🆗

    31問 • 1年前
    An nguyen xuan

    thuốc

    thuốc

    An nguyen xuan · 15問 · 1年前

    thuốc

    thuốc

    15問 • 1年前
    An nguyen xuan

    chẩn đoán- phân loại và CLS

    chẩn đoán- phân loại và CLS

    An nguyen xuan · 63問 · 1年前

    chẩn đoán- phân loại và CLS

    chẩn đoán- phân loại và CLS

    63問 • 1年前
    An nguyen xuan

    問題一覧

  • 1

    Đại cương - nước trong dịch cơ thể 45-75% - nước chỉ 10% trong mô mỡ - nước nữ <nam , già <trẻ -70kg, có tỷ lệ nước là 60% trọng lượng cơ thể, nghĩa là có khoảng 42 lít - Dịch nội bào: 40% trọng lượng cơ thể; 28 lít nước. - Dịch ngoại bào gồm: + Dịch kẽ: 15% trọng lượng cò thể; 10,5 lít nước. + Huyết tương: 5% trọng lượng cơ thể; 3,5 lít nước.

    z

  • 2

    1. Thành phần của dịch nội bào và dịch ngoại bào -1 phút có 70% huyết tương trao đổi với dịch kẽ - khác duy nhất protein huyết tương cao 🆗 dịch ngoại bào - nhiều natri và clo - ít kali , calxi , magie - điều hoà đặc biệt bởi thận 🆗 nội bào -dịch nội bào tất cả tế bào đều giống nhau - nhiều kali - không có calxi - ion clo và bicarbonat thấp hơn ngoại bào - protein gấp 4 lần huyết tương - do bơm Na-K atp và màng âm bên đẩy cl- và Hco3- ra ngoài - ion khác từng loại tế bào : na trong hồng cầu nhiều 🆗 cả 3 loại dịch có áp suất thẩm thấu bằng nhau

    x

  • 3

    2.1. Thành phần của huyết tương - huyết tương là dịch lỏng của máu ( đã loại thành phần hữu hình ) - huyết thanh là huyết tương loại đi yếu tố đông máu -một lít huyết tương của ngưòi bình thường có khoảng 930 gam nước và 70 gam các chất hoà tan, trong đó có 60 gam protein; 8g các ion vô cơ như natri, kali, clo, bicarbonat; 2 gam các chất hữu cơ khong phải protein như glucose, lipid.

    x

  • 4

    2.2. Chức năng của các protein huyết tương - các protein huyết tương gồm 3 loại albumin, globulin (a1 , a2, b1, b2 và y) và Fibrinogen . 🆗 vai trò chung - dự trữ acid amin - chất mang - chất đệm - đông máu - tạo áp suất keo Áp suất thẩm thấu là do các chất hoà tan tạo nên như điện giải , ure , glucose : 5550 mmHg hay 7.3 atm tưởng ứng 99,5% áp suất thẩm thấu toàn phần Áp suất keo chỉ tạo ra 28mmHg tương ứng 0,5% - dung dịch có cùng áp suất thẩm thấu với huyết tương được gọi là dịch đẳng trương. Dung dịch có áp suất thẩm thấu cao hơn áp suất của huyết tương là dung dịch ưu trương. Dung dịch có áp suất thẩm thâu thấp hơn của huyết tương là dung dịch nhược trương, cả ba loại dịch huyết tương, dịch kẽ và dịch nội bào đều cân bằng thẩm thấu. 🆗 albumin - 60% pro toàn phần - phân tử nhỏ(69k dalton ) , số lượng nhiều , tạo 80% áp suất keo - vai trò chất mang thuốc (barbiturat, penicillin); sắc tố (bilirubin urobilin); hormon (thyỷoxin) 🆗 globulin - chiếm 40% -a1 globulin : 4% a2 - globulin : 8% B1 globulin : 7% B2- globulin : 4% Y- globulin : 17% - a1 tạo HDLC -a2 gồm haptoglobin (gắn với hemoglobin tự do trong huyết tương khi có hiện tượng vỡ hồng cầu), prothrombin, erythropoietin và angiotensinogen. - b1 tạo LDLC - y globulin là globulin miễn dịch kháng thể IGA , G , M ,D, E (99% là GAM ) 🆗 tỷ lệ A/G - A/G bình thường = 2 - khi viêm nhiễm, Albu giảm , globulin tăng Dẫn đến A/G giảm nhưng nồng độ pro vẫn bình thường 🆗 fibrinogen - do gan sản xuất - Fibrinogen tan , fibrin không tan

    x

  • 5

    3. Dich kẽ -15% trọng lượng cơ thể, 10,5 lít. -phụ thuọc vao câu tạo của thành mao mạch và những lực tác dụng lên thành mao mạch, 🆗 áp suất mao mạch - đẩy nước vào khoảng kẽ - tận cùng tiểu động mạch là 30mmHg - tận cùng tiểu tĩnh mạch 10mmHg 🆗 áp suất keo huyết tương - hút nước từ khoảng kẽ vào mao mạch - là 28mmHg 🆗 áp suất keo dịch kẽ - tạo bởi 1 số pro nhỏ qua được lỗ mao mạch (2g/dL ) - là 8mmHg 🆗 tổng lực đẩy nước khỏi mao mạch đầu tiểu động mạch Có 3 lực - áp suất mao mạch 30 - áp suất âm dịch kẽ -3 - áp suất keo dịch kẽ 8 🆗 tóm lại - ở đầu tiểu động mạch , dịch bị đẩy ra dịch kẽ với áp suất 13mmHg - ở đầu tiểu tĩnh mạch, dịch trở lại máu từ dịch kẽ bởi áp suất 7mmHg -9/10 được tái hấp thu , 1/10 chảy ở bạch mạch

    x

  • 6

    4. Dịch bạch huyết Dịch bạch huyết là dịch kẽ chảy vào hệ thống bạch mạch. Hệ bạch mach sẽ đưa bạch huyết trở về máu tĩnh mạch qua ống ngực và ông bạch huyêt phai

    x

  • 7

    4.2. Cấu tạo của các mao mạch bạch huyết Hầu hết dịch lọc từ mao động mạch vào khoảng kẽ tế bào sẽ được tái hấp thu trở lại qua mao tĩnh mạch. Khoảng 1/10 lượng dịch lọc sẽ chảy vào mao mạch bạch huyết rồi theo hệ bạch mạch trở về máu tuần hoàn. Tuy lượng dịch lưu thông trong hệ bạch huyết rất nhỏ nhưng nó đóng vai trò quan trọng vì các phân tử protein không thể tái hấp thu vào các mao tĩnh mạch nhưng lại dễ dàng đi vào mao mach bach huyết. Câu trúc mao mach bach huyết này có câu trúc đặc biệt như sau:​• - Các tế bào nội mô của mao mạch bạch huyết gắn vối các mô liên kết ở xung quanh bằng những sợi dây neo. - Ở chỗ nối giữa hai tế bào nội mô liền kề nhau, cạnh của tế bào này thường chụp lên cạnh của tế bào kia tạo ra một van nhỏ mở vào phía trong của mao mach như vây dịch kẽ và các phân tư lớn như protein hoặc vi khuân có thê đẩy van này vào phía trong và chảy vào mao mạch bạch huyết. Một khi đã vào mao mạch bạch huyết rồi, dịch kẽ không thể chảy ra được nữa vì dòng chảy ngược sẽ làm đóng nắp van

    x

  • 8

    4.2. Cấu tạo của các mao mạch bạch huyết 4.1. Thành phần Thành phần của dịch bạch huyết tương tự như thành phần của dịch kẽ. Nồng độ protein trong dịch kẽ của hầu hết các mô vào khoang 2g/dl, nồng độ protein trong dịch bạch huyết bắt nguồn từ những mo này cung bằng 2g/dL. Tuy nhiên, bạch huyêt cua gan có nồng độ protein rất cao (6g/dL), bạch huyết của ruột có nồng độ protein là 3 đến 4 g/dL. Khoảng 2/3 bach huyết trong ống ngực là 3 đến 5 g/dL. Hệ thông bạch huyêt cũng là một​trong những​con​đưòng​chủ yếu​để​hấp thu các chât dinh dưõng từ ông tiêu hóa,​đặc​biệt là​hấp​thu​mỡ (xem​chương sinh ly tieu hoa). Sau một bữa ăn nhiều mỡ, bạch huyết ông ngực có thể chứa tới 1 đên 2% mơ. Ngoai ra, một sô phân tử lốn ví dụ vi khuẩn cũng có thể chui qua khe hơ giưa cac te bào nội mạc của mao mạch bạch huyết để đi vào bạch huyết. Khi bạch huyet chay qua các hạch, bạch huyết, các phần tử này bi giữ lại và bị phá huỷ. Bạch cầu lympho đi vào hệ thống tuần hoàn chủ yếu qua đưòng bạch huyết vì vậy có một ty lệ nhất định loại bạch, cầu này trong bạch huyết ông ngực.

    x

  • 9

    4.3. Lưu lương bạch huyết ở một người đang nghỉ ngơi, lưu lượng bạch huyết vào khoảng 120 mỉ/giờ, nghĩa là bằng 1/120.000 tốc độ khuếch tán của dịch qua mao​mạch,​Lưu​lượng bạch huyêt chịu ảnh hưởng của hai yếu tố: áp suất dịch​kẽ​và​hoạt​đọng cua bơm bạch huyết. 4.3.1. Ảnh hưởng của áp suất dịch kẽ Áp suất dịch kẽ càng tăng thì lưu lượng bạch huyêt càng tăng. Vì vậy, các yếu tô' làm tăng áp suất dịch kẽ sẽ làm tăng lưu lượng bạch huyêt, đó là: - Tăng áp suất mao mạch. - Giảm áp suất keo của huyết tương. - Tăng nồng độ protein trong dịch kẽ. - Tăng tính thấm của thành mao mạch. 4.3.2. Ảnh hưởng của bơm bạch huyết - Các tế bào nội mô của mao mạch bạch huyết chứa các sợi actomyosin làm cho các mao mạch bạch huyết co bóp theo nhịp. - Sự co bóp của thành ống bạch mạch. - Các yếu tô" bên ngoài ép lên mạch bạch huyết như sự co cơ, sự vận động các phần của cơ thể, mạch đập, các vật ỏ bên ngoài cơ thể ép lên các mô.

    x

  • 10

    4.4. Chức năng của hệ bạch huyết Hệ bạch huyết hoạt động như một cơ chế bổ trợ để đưa trở lại hệ thống tuần hoàn một lượng dịch cùng với một ít protein từ các khoảng kẽ. Vì vậy, hệ thông bạch huyết đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát nồng độ protein trong dịch kẽ, thể tích dịch kẽ và áp suất dịch kẽ. Sự kiểm soát này được tiến hành theo cơ chế điều hoà ngược như sau: một số phân tử protein thoát qua các lỗ của thành mao mạch vào dịch kẽ. Cac protein này tích lại trong dịch kẽ làm tăng áp suất keo của dịch kẽ và kéo dịch từ mao mạch vào dịch kẽ, kết quả là cả thể tích và áp suất trong dịch kẽ đều tăng lên. Sự tăng của thể tích và áp suất dịch kẽ làm tăng lưu lượng bạch huyết để lấy đi những phân tử protein ứ lại ở dịch kẽ cùng với khối lượng dịch thừa ra trong khoảng kẽ.

    x

  • 11

    5. Dịch não tuỷ

    x

  • 12

    5.1. Nhắc lại vể giải phâu (hình 8.2) Toàn bộ các khoang bao quanh não và tuỷ có thể tích từ 1.600 đến 1.700 ml. Dịch não tuy chiếm 150 ml của thể tích này. Phần còn lại là não va tuy Dịch não tuy khu trú trong các não thôt, trong các bể chứa quanh não, trong khoang dưối nhện bao quanh cả nỗo và tuỷ. Các buồng này đều thông vói nhau và áp suất dịch não tuỷ được điều hoà để giữ ở mức hăng định. Dịch não tuỷ được sản xuất với tốc độ 500 ml/ngày, tức là nhiều gấp 3 đến 4 lần thể tích dịch não tuỷ. Khoảng 2/3 lượng dịch này được bài tiết từ các đám rốì mạch mạc (choroid plexus) khu trú trong các não thất, chủ yếu là hai não thất bên. Một số dịch não tuỷ được bài tiết từ các bề mặt màng não thất và màng nhện. Bản thân não cũng bài tiết một ít dịch não tuỷ qua các khoang quanh mạch. Sau khi được bài tiết từ các đám rôi mạch mạc ở hai não thất bên và não thất III, dịch đi theo cống Sylvius vào não thất IV. Sau khi được bổ sung thêm một ít dịch nữa, dịch não tuỷ rời não thất IV qua các lỗ Luschka và Magendie vào bể chứa lớn (cysterna magna) nằm sau hành não và ở dưới tiểu não. Từ bể chứa lón, gần như toàn bộ dịch não tuỷ chảy lên trên qua khoang dưối nhện bao quanh não. Từ đây dịch chảy vào vô số nhung mao màng nhện rồi qua các nhung mao này đổ vào máu tĩnh mạch của xoang tĩnh mạch dọc và các xoang tĩnh mạch khác.

    x

  • 13

    5.2. Sự bài tiết dịch não tuỷ ở cấc đám rối mạch mạc Đám rối mạch mạc là sự phát triển của các mạch máu giống như hình hoa lơ và được bao phủ bằng một lớp tế bào biểu mô. Đám rối mạch mạc trồi vào sừng thái dương của các não thất bên, vào phần sau của não thất III và vào mái của não thất IV. Sự bài tiết dịch ở đám rối mạch mạc diễn ra như sau: ion natri được vận chuyển tích cực từ máu qua các tê bào biểu mô vào dịch não tuỷ. Ion clo đi theo ion natri để trung hoà điện tích. Nước khuếch tán theo các ion này vào dịch não tuỷ để cân bằng ap suất thẩm thấu. Ngoài ra, một lượng nhỏ glucose cũng được vận chuyển vào dịch não tuỷ. Ngược lại, ion kali và ion bicarbonat được vận chuyển từ dịch não tuỷ vào mao mạch.

    x

  • 14

    5.3. Sự hấp thu của dịch não tuỷ qua nhung mao màng nhện Nhung mao màng nhện là những cấu trúc rất nhỏ của màng nhện. Các nhung mao gom lại thành những đám lớn gọi là những hạt màng nhện troi vào bên trong các xoang tĩnh mạch. Các tế bào biểu mô bao phủ nhung mao có những hôc khá rộng xuyên qua thân tê bào để cho dịch não tuy, các phân tư protein và ngay cả một số tế bào như hồng cổu, bạch cầu có thể đi qua đế vào máu tĩnh mạch.

    x

  • 15

    5.4. Các khoang quanh mạch và dịch não tuỷ Các mạch máu lúc đầu đi trên bề mặt của não rồi xuyên vào bên trong não mang theo lớp màng nuôi cùng với chúng. Màng nuôi chỉ dính vào các mạch máu một cách lỏng lẻo, do đó giữa mạch máu và màng nuôi có một khoang gọi là khoang quanh mạch. Màng nuôi đi theo các mạch máu đến tận các tiểu động mạch và tiểu tĩnh mạch. Các mao mạch não không có màng bao quanh. Các khoang quanh mạch đóng vai trò như một hệ bạch huyết của não. Một số nhỏ protein thoát khỏi các mao mạch của nhu mô vào khoảng kẽ của mô. Trong mô não không có các mạch bạch huyết, vì vậy các protein này cùng với dịch kẽ của não chảy ra các khoang quanh mạch để vào khoang dưới màng nhện. Tại đây, protein cùng với dịch não tuỷ được hấp thu qua các nhung mao màng nhện vào máu tĩnh mạch. Khoang quanh mạch cũng làm nhiệm vụ vận chuyển các chất ngoại lai từ não vào các khoang dưới nhện để được hấp thu vào máu, ví dụ khi não bị viêm, các bạch cầu chết, các mảnh mô tổn thương được mang khỏi não qua các khoang quanh mạch.

    x

  • 16

    5.5. Tính chất và thành phần dịch não tuỷ Dịch não tuỷ không màu, trong vắt, sô" lượng dao động trong khoảng từ 60 đến 150 ml. Tỷ trọng từ 1,001 đến 1,010; pH từ 7,3 đến 7,4. Nồng độ protein từ 15 đến 22 mg/dl; nồng độ glucose thấp hơn của huyết tương khoảng 30% (2,8 đến 4,2 mmol/lít). về các chất điện giải: nồng độ ion natri tương đương với nong độ natri huyết tương; nồng độ ion clo cao hơn 15%; nồng độ ion kali thấp hơn 40%. Dịch não tuỷ hầu như không có tế bào, chỉ có khoảng 1 đến 3 bạch cầu lympho/mm3 dịch và một vài tế bào nội mô.

    z

  • 17

    5.6. Áp suất dịch não tuỷ Bình thường áp suất dịch não tuỷ ở tư thế nằm là từ 100 đến 150 mmH20 Ở tư thế ngồi, áp suất này tăng thêm khoảng 10 đến 50 mmH20. Áp suất dich não tuỷ được điều hoà thông qua sự hấp thu của dịch qua nhung mao màng nhên VI toc đọ Sân xuầt dịch 113.0 tu.y Ỉ3 hãng đinh. Hơn nUă các nhung 1T1&0 host động như những van chỉ cho phép dịch não tuỷ chảy vào máu tĩnh mach ma không theo hướng ngược lại. Bình thường, khi áp suất dịch não tuy cao hơn áp suất trong xoang tĩnh mạch khoảng 1,5 mmHg thì van sẽ mỏ ra cho dịch não tuỷ chảy vào xoang. Khi áp suất dịch não tuỷ tăng lên nữa thì các van sẽ mở ra rât rọng. Vi vậy, trong những điêu kiện bình thường áp suất dịch não tuỷ không bao giò chênh lệch quá nhiều so với áp suất ở xoang tinh mạch. Một sô" tình trạng bệnh lý làm tăng áp suất dịch não tuỷ như u não, chảy máu hoặc nhiêm khuân trong hộp sọ. u não ngăn cản sự lưu thông của dịch não tuỷ đi lên phía trên qua khoang dưới màng nhện, do đó sự hấp thu dịch não tuỷ qua nhung mao màng nhện bị giảm hoặc không xảy ra được. Trong chảy máu hoặc nhiêm trùng hộp sọ, sự xuất hiện đột ngột của một số lượng lớn tê bào trong dịch não tuỷ có thê làm tắc các kênh vận chuyển bên trong tê bào biểu mô của nhung mao màng nhện. Khi đó áp suất dịch não tuỷ có thể tăng lên đến 400 hoặc 600 mmH20.

    z

  • 18

    5.7. Chức năng của dịch não tuỷ Chức năng quan trọng nhất của dịch não tuỷ là lót đệm cho não ở bên trong hộp sọ cứng. Não và dịch não tuỷ có cùng tỷ trọng do đó não nổi lên trong dịch. Nêu bị một cú đập vào đầu, nhờ có dịch não tuỷ, toàn bộ não chuyển động đồng thòi với hộp sọ và không có phần nào của não bị biến dạng do cú đập này. Dịch não tuỷ cũng đóng vai trò của một bình chứa để thích nghi với những thay đổi thể tích của hộp sọ: nếu thể tích não hoặc thể tích máu tăng lên một lượng dịch não tuỷ tương đương sẽ được tái hấp thu thêm. Nếu thể tích não giảm, thể tích của dịch não tuỷ sẽ tăng lên. Trong một chừng mực nào đó dịch não tuỷ cũng là nơi trao đổi chất dinh dưỡng của hệ thần kinh. Tuy nhiên, phần lốn quá trình trao đổi chất của não được thực hiện trực tiếp với máu.

    z

  • 19

    5.8. Hàng rào máu - dịch não tuỷ và hàng rào máu - não Thành phần của dịch não tuỷ không giống thành phần của dịch ngoại bào. Nhiều chất có phân tử lớn rất khó đi vào dịch não tuỷ hoặc vào dịch kẽ của não cho dù những chất này có thể đi vào các khoảng kẽ ở các nơi khác của cơ thể. Đó là do sự có mặt của hai loại hàng rào: hàng rào máu-dịch não tuỷ ngăn cách giữa máu và dịch não tuỷ; hàng rào máu-não ngăn cách giữa máu và dịch kẽ của não. Hàng rào máu-dịch não tuỷ ở các đám rối mạch mạc. Hàng rào máu - não chính là thành các mao mạch não ở hầu hết các vùng của nhu mô não, trừ một sô vùng của hypothalamus, tuyến tùng, vùng postreraa. Tại những vùng này các chất khuếch tán dễ dàng vào khoảng kẽ. Điều này rất quan trọng vì tại đây có rất nhiều receptor cảm giấc đáp ứng với những thay đổi trong các dịch của cơ thể (ví dụ, sự thay đổi nồng độ của glucose/máu). Các đáp ứng này cung cấp những tín hiệu cho sự điều hoà ngược để đưa các yếu tô' trở lại giá trị bình thường. Nhìn chung, hàng rào máu-dịch não tuỷ và hàng rào máu-não có tính thấm cao với nước, CcCoxy và hầu hết với các chất điện giải (natri, clo, kali) và hầu như không thấm với protein và các phân tử hữu cơ không hoà tan trong mỡ. Cac hàng rào này ngăn cản sự thấm vào dịch não tuỷ hoặc vào nhu mo não nhiều loại thuốc điều trị như các kháng thể, các thuốc không hoà tan trong mõ.

    z

  • 20

    6. Dịch nhân cầu 🆗 2 loại : thuỷ dịch và thuỷ tinh thể Dịch nhãn cầu nằm trong ổ mắt và giữ cho ổ mắt căng phông. Dịch nhân cầu gôm hai loại: thuỷ dịch nằm ở phía trước và hai bên của thuỷ tinh the; thuy tinh dịch nằm giữa thuỷ tinh thể va võng mạc. 🆗 lưu thông Thuỵ dịch là dịch lưu thông tự do trong khi thuỵ tinh dịch là một khối gelatin hầu như không lưu thông nhưng các chất có the khuêch tán trong thuỷ tinh dịch một cách chậm chạp. Thuỷ dịch liên tục được sản xuất ra và được tái hấp thu. Sự cân bằng giữa hai quá trình này điều hoà thể tích và áp suất của dịch nhãn cầu. Thuỷ dịch được sản xuất ở nếp thể mi (ciliary processes) với tốc độ 2 đến 3 microlít/phút. 🆗 Nếp thể mi là những nếp gấp từ thể mi lồi vào khoang sau mống mắt, nơi các dây chằng của thuỷ tinh thể và các cơ thể mi gắn vào nhãn cầu. Bề mặt toàn bộ của nếp thể mi vào khoảng 6 cm2, được bao phủ bởi những tế bào biểu mô bài tiết và ngay bên dưới nếp thể mi là một mạng lưới mạch máu phong phú 🆗 . QŨá trình bài tiết thuỷ dịch diễn ra như sau: đầu tiên ion natri vận chuyển tích cực vào các khoang giữa các tế bào biểu mô kéo theo sự khuếch tán của ion clo và ion bicarbonat để trung hoà điện tích. Sự vận chuyển của các ion này tạo

    z

  • 21

    6.1. Quá trình sản xuất thuỷ dịch (hình 8.3) ít thuỷ dịch ra lực thẩm thấu hút nước từ các mô lân cận vào các khoang giữa các tế bào biểu mô. Từ đây dịch chảy vào bề mặt của nếp thể mi. Một sô chất dinh dưỡng như acid amin, acid ascorbic và glucose cũng được vận chuyển qua tế bào biểu mô theo cơ chế vận chuyên tích cực hoặc khuếch tán tăng cường.

    z

  • 22

    6.2. Thuỷ dịch chảy ra khỏi mắt như thế nào? Sau khi đươc sản xuất ở nếp thể mi, thuỷ dịch chảy giữa các dây chằng của thuỷ tinh the rồi qua đồng tử vào tiền phòng. Từ tiền phòng thuỷ dịch chay vào góc giữa giác mạc và mống mắt rồi qua một mạng lưới các cột (trabeculae) để vao kênh Schlemm, kênh này đố vào tĩnh mạch ngoài nhằn cầu Kênh Schlemm là một tĩnh mạch có thành mỏng, màng nội mô co nhiều lỗ nên protêin và các chất có kích thước lớn băng hồng cầu cũng có thể qua được thành đe vào kênh Schlemm. Downloadsachyhoc.com &K dovvnload sách y học Mặc dù kênh Schlemm là một tĩnh mạch nhưng vì có quá nhiều thuỷ dịch đổ vào kênh nên kênh chứa đẩy thuỷ dịch. Các tĩnh mạch nhỏ nối kênh Schlemm với các tĩnh mạch lớn hơn cũng chi chứa thuỷ dịch và được gọi là “tĩnh mạch nước”. Thuỷ dịch chảy ra khỏi mắt với tốc độ 2,5 microlít/phút, bằng tốc độ bài tiết thuỷ dịch ở nếp thể mi.

    z

  • 23

    6.3. Áp suất nhãn cầu 6.3. Áp suất nhãn cầu Bình thưòng áp suất nhãn cầu vào khoảng 15 mmHg, dao động trong khoảng từ 12 đến 20 mmHg. Khi áp suất nhãn cầu tăng lên quá giới hạn bình thường, tốc độ chảy của thuỷ dịch vào kênh Schlemm sẽ tăng lên. Bệnh tăng nhãn áp (glaucoma): bệnh tăng nhãn áp là một trong những nguyên nhân gây mù. Nhãn áp có thể tăng rất cao một cách đột ngột hoặc tăng dần dần trong một thời gian dài làm bệnh nhân bị mù. Nhãn áp tăng cao ép vào dây thần kinh thị giác và động mạch võng mạc tại đĩa thị giác. Sự chèn ép này làm các nơron thần kinh bị huỷ hoại và làm giảm dinh dưỡng của võng mạc. Nhãn áp tăng là do sự ngăn cản dòng chảy của thuỷ dịch từ góc giác​mạc​- mông mắt qua các lỗ nhỏ (đường kính 2 đến 3 um) của mạng lưới​cột​để​vào kênh Schlemm. Trong các trường hợp viêm nhiễm cấp tính ở mắt, các bạch cầu và các mảnh vụn của mô có thể làm tắc những lỗ nhỏ này, thuỷ dịch bị ứ lại và nhãn áp tăng lên. Trong các bệnh mạn tính đặc biệt ở ngưòi già, các lỗ nhỏ thưòng bị tắc do xơ hóa.

    z