ログイン

11 sinh lý bộ máy tiêu hoá 🆗
29問 • 1年前
  • An nguyen xuan
  • 通報

    問題一覧

  • 1

    1. Phân bố mạch máu, thần kinh ở bộ máy tiêu hóa

    x

  • 2

    1.1. Sự phân bô thần kinh trong Ống tiêu hóa Hoạt động của ống tiêu hóa chịu sự điều hoà của hệ thống thần kinh tự chủ (gồm thần kinh phó giao cảm và thần kinh giao cảm) và hệ thần kinh ruột. - Thần kinh phó giao cảm: + Nhân vận động dây X ở hành não cho các sợi theo dây X đi đến đoạn dưới thực quản, dạ dày, ruột non, manh tràng, đại tràng lên, đại tràng ngang. + Đoạn cùng của tuỷ sông (C2-C4) cho các sợi theo dây thần kinh chậu đi đến đại tràng xuống, đại tràng sigma, trực tràng và ống hậu môn. Các sợi thần kinh phó giao cảm tạo synap với các tế bào hạch của hệ thần kinh ruột. Các sợi tiền hạch phó giao cảm bài tiết acetylcholin. - Thần kinh giao cảm: Các sợi thần kinh giao cảm xuất phát từ đoạn tuỷ sống thắt lưng rồi tạo synap với các hạch trưốc cột sông như hạch cổ, hạch mạc treo tràng trên, mạc treo tràng dưới. Các sợi sau hạch giao cảm có thể đến tạo synap với các nơron của hệ thần kinh ruột hoặc trực tiếp đến các mạch máu, các cơ thắt trơn và các hốc Lieberkủhn trong nhung mao ruột. - Ống tiêu hóa cũng có các sợi cảm giác để tiếp nhận các kích thích cơ học, hóa học và nhiệt độ. - Hệ thần kinh ruột gồm các nơron có thân tế bào nằm trong thành của ông tiêu hóa. Hệ thần kinh ruột được tổ chức thành hai loại đám rối thần kinh: đám rối cơ (đám rối Auerbach) khu trú giữa lớp cơ dọc và lớp cơ vòng của thành ống, phân bố thần kinh cho các lớp cơ; đám rối dưới niêm mạc (đám rốì Meissner) nằm giữa lớp cơ vòng và lớp dưới niêm mạc, phân bố thần kinh cho niêm mạc. Hệ thần kinh ruột cũng được gọi là “bộ não nhỏ” của ruột vì nó đươc tổ chức như một hệ thần kinh độc lập gồm các nơron cảm giác, nơron trung gian và nơron vận động theo các con đưòng phản xạ và những chương trình vân đông được thiết lập sẵn. Sô' lượng nơron của hệ thần kinh ruột vào khoảng 100 triêu gần bằng sô nơron của tuỷ sông. -Hoạt đọng cua hệ thàn kinh ruột có thể bị thay đổi (modiíĩcd) bơi hệ thán kinh tự chu, tuy nhiên một sô lượng rât lớn nơron thần kinh ruột không nhận thong tin trực tiêp từ các sợi thần kinh giao cảm hoặc phó giao cảm vì hâu hêt nơron than kinh ruột là nơron trung gian có chức năng tích hợp, do đó các thong tin cảm giác có thể được xử lý trong hệ thần kinh ruột hoàn toan độc lập với hệ thần kinh trung ương. Hệ thân kinh ruột không chỉ kiểm soát sự co hoặc giãn các cơ, kiêm soát lưu lượng máu mà còn điều hoà hoạt động bài tiết của các tê bào biểu mô ông tiêu hóa. Hệ thân kinh ruột cũng có những chương trình vận động được thiêt lập săn cho các vận động nhu động, co bóp theo phân đoạn, nôn và đại tiện.

    x

  • 3

    1.2. Phân bố mạch máu Các mạch máu của ông tiêu hóa là một phần của tuần hoàn lách (gồm tuần hoàn máu của ruột, lách, tụy và gan). - Mau sau khi đi qua ống tiêu hóa, lách và tụy sẽ theo tĩnh mạch cửa về gan. -Ở trong gan, máu đi qua hàng triệu xoang chứa máu nhỏ (sinusoid) rồi theo các tĩnh mạch gan đổ vào tĩnh mạch chủ của tuần hoàn hệ thống. -Khi máu lưu thông qua gan, các tê bào liên võng nội mô nằm trong các xoang chứa máu sẽ lấy đi vi khuẩn và những tác nhân có hại đi từ Ống tiêu hóa vào hệ thông tuần hoàn. -Hầu hết các chất dinh dưỡng được hấp thu ở ruột cũng theo tĩnh mạch cửa đến các xoang máu. Ở đây chúng được các tế bào võng nội mô và tế bào gan giữ lại và xử lý. Các chất dinh dưỡng không hoà tan trong nước được hấp thu vào ông bạch huyết trung tâm rồi theo hệ thống bạch mạch đổ vào tĩnh mạch dưới đòn.

    x

  • 4

    2. Tiêu hóa ở miệng và thực quản

    x

  • 5

    2.1 Các hiện tượng cơ học ở miệng: nhai và nuốt. 2.1.1. Nhai Người ta nhai bằng răng: răng cửa để cắt, răng hàm để nghiền. Các cơ hàm khi cùng làm việc sẽ làm cho hai hàm răng khít lại (cắn răng). Hầu hết các cơ nhai đều do nhánh vận động của dây V chi phối. Trung tâm nhai nằm ỏ thân não. Phản xạ nhai diễn ra như sau: thức ăn ép vào miệng gây ức chế các cơ nhai làm hàm dưói trễ xuống và làm căng các cơ hàm, các cơ hàm co lại, hàm dưới nâng lên làm hai hàm răng khít lại đồng thòi ép viên thức ăn vào miệng, các cơ nhai lại bị ức chế..., cứ như thế động tác nhai được lặp đi lặp lại. Nhai rất quan trọng đối với sự tiêu hóa thức ăn vì các enzym tiêu hóa chỉ tác dung trên bê mặt cua các phần tử thức ăn. Sự nghiền thức ăn thành những phần tử nhỏ rồi trộn lẫn với nước bọt vừa làm tăng diện tích tiếp xúc của thức an với enzym tiêu hóa vừa làm cho thức ăn được vận chuỵển dễ dàng mà không lam ton thương ống tiêu hóa. Riêng đối với rau quả, nhai còn quan trọng ở chỗ nó phá vỡ màng bọc cellulose để những phần dinh dưỡng ở bên trong có thể được tiêu hóa và hấp thu. Những người không có răng thường không thể ăn được thức ăn khô. 2.1.2. Nuốt Nuôt là một động tác nửa tuỳ ý, nửa tự động có cơ chế phức tạp, được chia làm ba giai đoạn: - Giai đoạn nuổt có ý thức: viên thức ăn được đặt trên lưỡi, lưỡi cử động lên trên và ra sau để đẩy thức ăn vào họng. Bắt đầu từ đây, nuôt trơ thành phản xạ tự động. - Giai đoạn họng không có ý thức: viên thức ăn kích thích vùng nhận cam nuôt ở quanh vòm họng, đặc biệt trên các cột hạnh nhân. Xung động truyên vê trung tâm nuốt ở hành não theo các sợi cảm giác của dây tam thoa, dây IX. Từ trung tâm, xung động theo các dây thần kinh V, IX, X và XII đến họng và thực quản gây co các cơ của họng theo trình tự sau: + Họng mềm bị kéo lên trên để đóng lỗ mũi sau, ngăn sự trào ngược thức ăn vào khoang mũi. + Các nếp gấp của vòm họng ồ hai bên được kéo vào giữa tạo thành một rãnh dọc để thức ăn qua đó vào họng sau. Rãnh này không cho những thức ăn hoặc vật có kích thước lớn đi qua. + Các dây thanh âm nằm sát cạnh nhau, thanh quản bị kéo lên trên và ra trưốc bỏi các cơ cổ. Động tác này cùng vói sự có mặt của các dây chằng làm cho nắp thanh quản bị đưa ra sau che kín thanh môn, ngăn không cho thức ăn đi vào khí quản. + Thanh quản bị kéo lên trên cũng làm mở rộng khe thực quản, cơ thắt họng, thực quản giãn ra, đồng thòi toàn bộ cơ thành họng co lại đẩy thức ăn từ họng vào thực quản. Toàn bộ giai đoạn này kéo dài từ 1 đến 2 giây. - Giai đoạn thực quản: chức năng chủ yếu của thực quản là đưa thức ăn từ họng vào dạ dày nhờ các sóng nhu động. Thời gian thức ăn di chuyển trong thực quản khoảng 8 đến 10 giây. Nếu người ta ăn ở tư thế đứng thì thức ăn sẽ được chuyển nhanh hơn (chỉ mất khoảng 5 đên 8 giây) do tác dụng của trọng lực kéo thức ản xuống. Các sóng nhu động của thực quản được kiểm soát bởi dây thần kinh số IX dây X và đám rối thần kinh Auerbach ở thực quản. Khi sóng nhu động của thực quản đến gần dạ dày, cơ thắt dạ dày - thưc quản giãn ra, đồng thời với sự giãn của phần trên dạ dày, sóng nhu đọng ở phm sau viên thức ăn đay nó vào dạ dày. Bình thường cơ that dạ dày - thưc quan ơ trạng thái co trương lực đê ngăn cản sự trào ngược của thức ăn acid từ dạ dày lên thực quản.

    x

  • 6

    2.2. Bài tiết nước bọt. 🆗 2.2.1. Nguồn gốc, thành phần và đặc tính của nước bọt Có ba đôi tuyến nưóc bọt là tuyến mang tai, tuyến dưối hàm và tuyến dưới lưỡi. Ngoài ra trong khoang miệng cũng có rất nhiều tuyến nưốc bọt nhỏ. Các tuyến nước bọt mang tai có kích thước lốn nhất nhưng các tuyến nưốc bọt dưới hàm mới quan trọng vì chúng bài tiết khoảng 70% lưu lượng nước bọt trong ngày. Đơn vị bài tiết cơ bản của tuyến nước bọt được gọi là salivon (hình 11.1). Mỗi salivon gồm nang (acinus) và ông dẫn nưốc bọt. Lòng nang được nối với hệ thống ống dẫn phân nhánh. Các nang nước bọt được cấu tạo từ hai loại tế bào: tế bào thanh dịch và tế bào nhầy. Tế bào thanh dịch bài tiết thanh dịch chứa các chất điện giải và enzym amylase nước bọt. Tế bào nhầy bài tiết chất nhầy. Các tuyến mang tai chỉ bài tiết thanh dịch; các tuyến nước bọt nhỏ trong miệng chỉ bài tiết chất nhầy; các tuyến dưới hàm và dưói lưỡi bài tiết cả thanh dịch và chất nhầy. Nước bọt ra khỏi nang có nồng độ ion Na+, K+ và C1 giống như của huyết tương. Nhưng khi nước bọt chảy qua ống dẫn, các ion Na+ và C1 được tái hấp thu, đồng thòi các ion K+ và HCOg được bài tiết vào lòng ống. Do đó nồng độ ion K+ nước bọt cao gấp 7 lần, nồng độ ion HC03 cao gấp 3 lần trong khi nồng độ ion Na+ và C1 nưốc bọt chỉ băng 1/7 đến 1/10 nồng độ của chúng trong huyết tương. Lưu lượng nưốc bọt hằng ngày vào khoảng từ 800 đến 1500 ml, pH nước bọt từ 6 đến 7,4 đó là pH tốì thuận cho tác dụng tiêu hóa của enzym amylase nước bọt. 🆗 2.2.2. Vai trò của nước bọt. Nước bọt có nhiều tác dụng: - Tác dụng tiêu hóa: Enzym amylase nước bọt có tác dụng phân giải tinh bột chín thành đưòng maltose, maltotriose và oligosaccarid. pH tối thuận của amylase nước bọt là 7. Khi thức ăn vào dạ dày, do một lượng lớn thức ăn không thể được trộn lẫn ngay với acid của dạ dày nên amylase nước bọt vẫn có tác dụng trong dạ dày và enzym này có thể thuỷ phân tới 75% lượng tính bột chín ăn vào. - Nước bọt làm ẩm ướt, bôi trơn miệng và thức ăn tạo điều kiện cho việc nuốt và nếm được thực hiện dễ dàng. - Vệ sinh răng miệng: Trong miệng có rất nhiều loại vi khuân, chúng de dàng huỷ hoại các mô và có thể gây sâu răng. Nước bọt chông lại quá trình huy hoại này vì nước bọt chảy sẽ cuôn đi vi khuẩn gây bệnh cũng như nguôn thưc ản cung cấp cho sự chuyển hóa của chúng. Nước bọt cũng chứa một sô chât giet VI khuân (như ion thyocyanat, lysozym) và chứa kháng thê tiêu diệt VI khuân ơ miệng, kể cả những vi khuẩn gây sâu răng. Nước bọt còn có tác dụng trung hoà acid do vi khuẩn ở miệng giải phóng ra hoặc acid trào ngược từ dạ dày lên miệng. - Nưóc bọt giúp cho sự nói vì nó làm cho môi, lưỡi cử động dễ dàng. 🆗 2.2.3. Điều hoà bài tiết nước bot Tuyên nước bọt là loại tuyến tiêu hóa duy nhất không chịu ảnh hưởng của các hormon tiêu hóa. Chúng chỉ chịu sự điều hoà của thần kinh tự chủ chủ yếu là thần kinh phó giao cảm. Trung tâm kiểm soát sự bài tiết nước bọt là các nhân nước bọt nằm ở giữa cầu não và hành não. Các kích thích gây tăng bài tiết nước bọt là nhai, ngửi hoặc nếm thức ăn (phản xạ không điều kiện). Bài tiết nước bọt cũng tăng lên khi ta nghĩ đến một món ăn nào đó (phản xạ có điều kiện). Bài tiết nước bọt giảm khi ngủ, mệt mỏi, sợ hãi hoặc bị mất nước. Vị chua làm nưỏc bọt tăng bài tiết gấp 8 đến 20 lần bình thường. Sự có mặt của các vật trơn nhẵn trong miệng cũng làm tăng tiết nước bọt. Nước bọt cũng được bài tiết nhiều khi ta nuốt phải những chất kích thích để giúp pha loãng hoặc trung hoà các chất đó trong ống tiêu hóa. Kích thích các sợi thần kinh phó giao cảm (dây VII, dây IX) làm tăng bài tiết nước bọt loãng giầu chất điện giải và amylase nưóc bọt. Nếu cắt các dây phó giao cảm đi đến tuyến nưóc bọt, các tuyến nước bọt sẽ bị teo đi. Nhưng cắt dây thần kinh giao cảm không làm ảnh hưởng đến kích thước của tuyến. Kích thích sợi giao cảm làm tăng bài tiết nước bọt giàu chất nhầy khối lượng nước bọt tăng ít hơn so với kích thích thần kinh pho giao cảm Ngay sau khi kích thích giao cảm, lưu lượng máu giảm nhưng dần dần lưu lương mau se tăng lên do sự ứ đọng của các chất chuyển hóa gây giãn mạch 🆗 2.2.4. Kết quả tiêu hóa ở miệng Nhờ nhai và bài tiết nưốc bọt, thức ăn được cắt, nghiền và trôn lẫn với nước bọt thành viên thức ặn mềm, trơn rồi được lưỡi đưa xuong hong vao thưc quản. Về mặt hóa học, dưới tác dụng của amylase nước bọt, mọt so tinh bot được chuyên thành đường maltose và maltotriose, vì thê khi ăn chất bột nêu ta nhai kỹ sẽ thấy có vị ngọt. Amylase nước bọt tiếp tục thuỷ phân tinh bột ở dạ dày cho đến khi thức ăn ngấm acid dưới tác dụng của dịch VỊ. Ngoài ra cũng nên lưu ý là do nồng độ ion K+ trong nước bọt cao gấp nhiều lần so với trong huyết tương nên trong một sô' tình trạng bệnh lý nước bọt bị mất khỏi cơ thể trong một thời gian dài, người ta bị mất nhiều ion K+ làm cho nồng độ ion K+ huyết tương giảm có thể gây liệt. Chứng khô miệng (xerostomia) là triệu chứng do giảm hoặc không bài tiết nước bọt. Một sô thuôc, đặc biệt là thuốíc chông trầm cảm với tác dụng anticholinergic có thể gây chứng khô miệng. Bệnh nhân bị khô miệng thường nuốt khó, nói khó và bị rối loạn vị giác, dễ bị viêm niêm mạc miệng và sâu răng.

    x

  • 7

    3. Tiêu hóa ở dạ dày Về mặt giải phẫu, dạ dày được chia thành 3 vùng: vùng đáy, vùng thân và vùng hang. Chỗ nôi giữa dạ dày và thực quản là tâm vị, chỗ nối giữa dạ dày và tá tràng là môn vị. về mặt sinh lý, người ta chia dạ dày thành 2 phần: dạ dày phần gần (vùng đáy và 1/3 trên của thân dạ dày) và dạ dày phần xa (2/3 dưới của vùng thân và vùng hang). Dạ dày phần gần đóng vai trò tiếp nhận và chứa đựng thức ản. Dạ dày phần xa có chức năng nghiền, nhào trộn thức ăn với dịch vị và kiểm soát việc đưa vị trấp xuống tá tràng.

    x

  • 8

    3.1. Các hiện tượng cơ học ở dạ dày 🆗 3.1. Các hiện tượng cơ học ở dạ dày 3.1.1. Chức năng chứa đựng Khi thức ăn chạm vào cơ thắt dạ dày - thực quản thì đồng thòi với sự giãn của cơ thắt này, dạ dày phần gần cũng giãn ra. Đó là sự giãn tiếp nhận để thức ăn đi xuống dạ dày. Phản xạ gián tiếp nhận được khởi động khi thức ăn kích thích vào các bộ phận nhận cảm cơ học ở họng, xung động truyền về hành não rồi truyền ra theo dây X đến ức chế các nơron vận động của hệ thần kinh ruột. Ngoài ra, thức ăn làm căng dạ dày cũng gây ra phản xạ dây X (vagovagal reílex) để làm giảm trương lực của thành dạ dày phần gần. Nhờ hai phản xạ này, dạ dày phần gần phình dần ra phía ngoài và chứa được nhiều thức ăn hơn. Khả năng chứa đựng tối đa của dạ dày có thê lên tới 1,5 lít. Lúc này áp suất bên trong dạ dày vẫn thấp. 3.1.2. Các co bóp của dạ dày và vai trò nhào trộn thức ăn - Co bóp hang vị: Khi dạ dày đã chứa đựng thức ăn, các sóng nhu động yếu (cũng gọi là sóng nhào trộn) bắt đầu từ phần giữa chuyển dọc theo thành dạ dày về phía hang vị. Đến hang vị chúng trơ nên mạnh hơn, tạo thành một sô vòng co bóp nhu động rất mạnh. Các 8Óng nồy vừa ấn Bâu vồo thức ỗn vừa đáy thức ăn về phía môn vị. Khi sóng co bóp hang vị đồu tiên đến môn vj, nếu môn vị mở, nó đẩy được khoảng vài mililít vị trấp xuống tá tràng. Sónvc co bóp tiếp theo, sau sóng đầu khoảng 2-3 giây đi đến môn vị thì cơ thát môn vị đã co lại (đóng môn vị), thức ăn bị đẩy trỏ lại phía thAn dạ dày. Quố trình đẩy ngược lại (retropulsion) này có tác dụng trộn thức ăn với dịch vị và nghiền thức An thành những phần tử nhỏ hơn. Kích thích dây X làm tăng cường độ và tần 80 của các co bóp hang vị, trong khi kích thích giao cảm có tác dụng ngược lại. Nếu nhánh của dây X đên hang VỊ bị thoái hóa hoặc bị cắt (vagotomie), lực co bóp của sóng hang vị giám đi và 8ự thoát thức ăn xuống tá tràng bị chậm lại. - Co bóp đói: giữa các bữa ăn, khi dạ dày rỗng được khoảng vài giờ, các co bóp đói sẽ xuất hiện. Đó là những co bóp nhu động theo nhịp trong thần dạ dày, lúc đầu yêu và rời rạc, rồi mạnh dần lên. Khi các co bóp đói trở nên cực mạnh, chúng hoà vào nhau gây ra một co cứng liên tục có thể kéo dài tới 2-3 phút làm ta có cảm giác đau nhói vùng thượng vị. Co bóp đói thưòng mạnh nhât ở những người trẻ, khỏe mạnh, những người có trương lực dạ dày cao. Co bóp đói cũng tăng lên khi đưòng huyết hạ. Có thể coi co bóp đói là một tín hiệu điều hoà quan trọng của ống tiêu hóa để thúc đẩy con người đi tìm thức ăn khi cơ thê băt đâu bị đói. 🆗 3.1.3. Thức ăn thoát khỏi da dày - Sự đóng mở môn vị Thức ăn thoát khỏi dạ dày vào tá tràng phụ thuộc vào cường độ các co bóp hang vị và sự đóng mở môn vị, nghĩa là phụ thuộc vào trương lực của cơ thắt môn vị. - Các co bóp nhu động vùng hang: bình thường các co bóp nhu động hang vị thường yếu có tác dụng chủ yếu là nhào trộn thức ăn vối dịch vị. Khi thức ăn đã ở trong dạ dày được khoảng một giò, các co bóp hang vị trỏ nên mạnh dần để đẩy thức ăn xuống môn vị. Nếu trương lực cơ thắt môn vị giảm (môn vị mở), mỗi sóng co bóp hang vị có thể đẩy được khoảng vài mililít vị trấp vào tá tràng. Co bóp hang vị cũng được gọi là “bơm môn vị” vì nó có tác dụng bơm thức ăn qua môn vị xuống tá tràng. - Vai trò của cơ thắt môn vị: cơ vòng môn vị dày hơn cơ trơn vùng hang gấp rưỡi đến gấp hai lần. Cơ này luôn ở trạng thái co trương lực nhẹ, do đó được gọi là cơ thắt môn vị. Khi trương lực cơ thăt môn vị giam, môn vi thường hé mở đủ để nước và chất bán long đi qua, thức ăn có kích thưốc lớn hoặc ỏ thể rắn sẽ bị ngăn lại. Mức độ co của cỢ môn vị tăng lên, môn vị đóng lại, thức ăn bị giữ lại ở dạ dày. Sự đóng, mơ môn VỊ chiu sự đieu hoà cua cơ chê thần kinh và hormon từ dạ dày và nhất là từ tá tràng. 🆗 314 Điều hoà sự thoát thức ăn khỏi dạ dày Tốc độ đẩy thức ăn khỏi dạ dày được điều hoà bởi các tín hiệu thần kinh và hormon từ dạ dày và từ tá tràng. - Tín hiệu từ dạ dày: Thức ỗn làm căng dạ dày sẽ kích thích dây X và các phan xạ thân kinh ruột tại chỗ. Đồng thời aự căng dạ dày và các phản xạ dáy X cũng kích thích tê bào G của niêm mạc vùng hang bài tiết gastrin. cả hai tín hiệu thân kinh và hormon này đều có tác dụng làm tăng lực bơm môn vị và làm giam trương lực cơ thăt môn vị, môn vị mở ra và một 8ố vị trâp được đẩy xuống tá tràng. - Tín hiệu từ tá tràng: Khi có quá nhiều vị trấp đi xuống tá tràng thì ở tá tràng sẽ có những tín hiệu điều hoà ngược âm tính (cả thần kinh và hormon) để làm giảm lực bơm môn vị và làm đóng môn vị, do đó vị trấp không đi xuống tá tràng nữa. Các tín hiệu đó là: + Các phản xạ ruột - dạ dày: Khi thức ăn vào tá tràng, khối lượng và các thành phần của vị trấp sẽ khởi động các phản xạ thần kinh xuất phát từ thành tá tràng rồi quay trở lại dạ dày để làm chậm hoặc ngừng sự thoát thức ăn xuống tá tràng. + Tín hiệu hormon: Sự có mặt của các acid béo, acid hoặc polypeptid trộn vị trấp ở ruột non (acid béo đóng vai trò quan trọng nhất) kích thích các tế bào nội tiêt trong lớp tế bào biểu mô niêm mạc ruột non bài tiết ra một số hormon như cholecystokinin (CCK), secretin và peptid ức chế dạ dày (gastric inhibitory peptide - GIP). Các hormon này có tác dụng ức chế sự chuyển thức án từ dạ dày xuống tá tràng khi có quá nhiều vị trấp, đặc biệt là acid và acid béo trong vị trấp đi vào tá tràng. Hormon CCK đóng vai trò quan trọng nhất, nó tác dụng như một ức chế cạnh tranh để ngăn cản tác dụng làm tăng lực bơm môn vị của gastrin. Secretin và GIP có tác dụng làm giảm vận động của ống tiêu hóa nhưng yếu. Như vậy, trong cơ chế kiểm soát sự thoát thức ăn từ dạ dày xuống tá tràng, các tín hiệu từ dạ dày chỉ đóng vai trò thứ yếu. Các tín hiệu điều hoà ngược bao gồm cả thần kinh và hormon từ tá tràng giữ vai trò quan trọng hơn nhiều. Cả hai cơ chế điều hoà ngược này phôi hợp vối nhau để ức chế sự thoát thức ăn xuống tá tràng khi: (1) Có quá nhiều vị trấp đi vào tá tràng, (2) Vị trấp quá acid hoặc có nhiều acid béo, chất kích thích, (3) Vị trấp nhược trương hoặc ưu trương. Bằng cách này, tốc độ chuyển thức ăn xuông tá tràng được giới hạn để cho quá trình xử lý thức ăn trong ruột non được hoàn tất.

    x

  • 9

    3.2. Bài tiết dịch vị 🆗 3.2. Bài tiết dịch vị 3.2.1. Nguồn gốc, tính chất và thành phần dịch vị Dạ dày bài tiết khoảng 1 đến 3 lít dịch vị mỗi ngày. Dịch vị là một chất lỏng, không màu, quánh. Dịch vị có nồng độ acid clohydric cao (khoảng 150 mmol/lít, pH~l) va chứa pepsin, lipase, yếu tô' nội, chất nhầy. - Hầu hết dịch vị do các tuyến sinh acid (tuyến oxyntic) nằm ỏ niêm mạc vùng thân và đáy dạ dày bài tiêt (hình 11.2) . Các tuyên này gôm 4 loại tê bào: (1) Tế bào viển bài tiết acid clohydric và yếu tố nội, (2) Tế bào chính bài tiết pepsinogen và lipase dạ dày, (3) Tê bào nội tiêt gôm tê bào ưa crôm bài tiết histamin, tế bào D sản xuất somatostatin, (4) Tế bào cổ bài tiết chất nhầy. Tế bào cổ là tế bào gốc của các loại tế bào khác của tuyến nhờ hoạt động phân bào. - Các tuyến tâm vị khu trú ở niêm mạc tâm vị bài tiết chất nhầy. - Các tuyến môn vị khu trú ở niêm mạc vùng hang và chứa các tê bào sản xuất chất nhầy và pepsin, tế bào G sản xuất gastrin và tê bào D sản xuất somatostatin. - Bề mặt dạ dày được lát bằng một lớp tê bào biểu mô hình trụ bài tiết chất nhầy và dịch kiềm giàu bicarbonat. Hình 11.2. Cấu trúc của niêm mạc vùng thân dạ dày và tuyến sinh acid 3.2.2. Bài tiết acid chlohydric(HCl) HC1 do tế bào viền bài tiết. Khi bị kích thích, tế bào viền bài tiết một dung dịch chứa khoảng 150 mmol HCl/lít, pH«l. ơ pH này nồng độ ion H+ cao gấp hơn một triệu lần nồng độ ion H+ trong máu động mạch. Tế bào viền chứa những kênh nhỏ (hình 11.3). HC1 được tạo ra ở màng nhung mao của kênh. Các kênh này đô vào lòng ống tuyến sinh acid. - Quá trình tạo HC1 (sơ đồ 11.1) diễn ra như sau: (1) Bên trong bào tương, C02 kết hợp với nước dưới tác dụng xúc tác của enzym carbonic anhydrase (CA) để tạo thành H2C03 sau đó H2C03 phân ly thành ion H+ và HCOg~. Ion H+ được bài tiết tích cực vào lòng kênh, đồng thời ion K+ đi vào tế bào. Sự trao đổi tích cực giữa hai ion này xảy ra dưới tác dụng của bơm H+- K+ - ATPase và được gọi là bơm proton. (2) lon C1 được vận chuyển tích cực từ dịch ngoại bào vào bào tương của tế bào viền , sau đó khuếch tán vào lòng kênh. (3) Tại lòng kênh ion H+ và ion C1 kết hợp với nhau để tạo thành HC1. (4) lon HCCV được tạo ra trong tế bào viền sẽ trao đổi với ion cr theo cơ chế đồng vận chuyển ngược chiều để ra dịch ngoại bào và kết hợp vối ion Na+ tạo thành NaHC03~. Như vậy, việc tạo thành HC1 có vai trò của bơm proton và bơm này bị ức chế bởi omeprazol. (5) Nước từ dịch ngoại bào đi qua tế bào vào kênh để cân bằng áp suất thẩm thấu. Kết quả là khi HC1 được bài tiết vào lòng ống tuyến dạ dày thì NaHC03 được đưa thêm vào máu. Vì vậy, sau một bữa ăn no, pH của máu có thể tàng lên. 🆗 - Vai trò của HC1: + Tạo pH cần thiết để hoạt hóa pepsinogen. + Tạo pH tối thuận cho pepsin hoạt động. + Sát khuẩn: tiêu diệt các vi khuẩn có trong thức ăn. Những người bài tiết ít HC1 dễ bị nhiễm khuẩn đường tiêu hóa. + Phá vỡ lớp vỏ bọc sợi cơ thịt. + Thuỷ phân cellulose ở thực vật non. + Tham gia cơ chế đóng mở môn vị và tâm vị. 3.2.3. Sự bài tiết ưà vai trò của nhóm enzym tiêu hóa - Pepsin: Tế bào chính của tuyến sinh acid và tế bào nhầy của tuyến môn vị bài tiết pepsinogen không hoạt động. Ngay khi pepsinogen tiếp xúc với HC1 đặc biệt khi tiếp xúc với một ít pepsin được tạo ra trưóc đó cộng thêm HC1 thì pepsinogen được hoạt hóa thành pepsin. Pepsin hoạt động mạnh nhất ở pH từ 2 đến 3 và bị bất hoạt ở pH > 5. Pepsin là một endopeptidase có tác dụng thuỷ phân protein thành proteose, pepton và polypeptid. Pepsin cũng có khả năng tiêu hóa collagen, thành phần chủ yêu của mô liên kết giừa các tế bào của thịt. Chỉ khi các sợi collagen bị tiêu hóa thì các enzym tiêu hóa khác mới thâm được vào thịt và tiêu hóa protein. Pepsin tiêu hóa khoảng 10 đến 20% protein thức ăn. - Lipase của dịch vị có cùng nguồn gôc với pepsinogen. Mỗi ngày chúng ta ăn khoảng 60 đến lOOg lipid. Lipid gồm triglycerid (chiếm 90%), cholesterol ester, phospholipid và một sô ít các loại vitamin tan trong mỡ. Lipase dịch vị là một enzym yếu và chỉ tác dụng trên những lipid đã nhũ tương hóa như lipid của sữa, trứng. Lipase dịch vị phân giải triglycerid thành acid béo và diglycerid. pH tối thuận của lipase dịch vị nằm trong khoảng từ 4 đến 6. Acid béo được giải phóng ở dạ dày sẽ kích thích niêm mạc tá tràng bài tiết hormon cholecystokinin. Hormon này kích thích tụy bài tiết lipase. 3.2.4. Sự bài tiết và vai trò của yếu tố nôi Yếu tố nội do tế bào viền bài tiết cùng với HC1. Yếu tô' nội rất cần cho sự hấp thu vitamin B12 ở hồi tràng. Trong bệnh viêm dạ dày mạn tính, teo niêm mạc dạ dày, tế bào viền bị phá huỷ, bệnh nhân không chỉ bị vô toan mà còn bị thiếu máu ác tính vì vitamin B12 rất cần cho sự chín của hồng cầu ở tuỷ xương (xem Bài 7. Sinh lý học máu). 3.2.5. Sự bài tiết và vai trò của chất nhầy Chất nhầy do các tế bào tuyến tâm vị, tuyến môn vị và tế bào cổ của tuyến sinh acid bài tiết. Ngoài ra, trên toàn bộ bề mặt của niêm mạc, ở giữa các tuyến, có một lớp tế bào nhầy gọi là tế bào nhầy bề mặt. Các tế bào nhầy bề mặt bài tiết chất nhầy quánh va kiềm, không hoà tan, tạo thành một lớp gel nhầy, dày trên 1 milimét bao phủ niêm mạc dạ dày. Chất nhầy gồm các phân tử glycoprotein giàu glucid, các phân tử phospholipid và acid nucleic. Màng chất nhầy dai và kiềm này bảo vệ niêm mạc dạ day và tá tràng khỏi tác dụng ăn mòn và tiêu hóa của HC1 và pepsin. Bình thường sự bài tiết chất nhầy và bài tiết HC1, pepsin tương đương vói nhau nên dịch vị có thể tiêu hóa thức ăn nhưng lại không thể tiêu hóa được bản thân dạ dằy, tẩ tràng. Khi bài tiết chất nhầy giảm sút, niêm mạc dạ dày dễ bị ăn mòn, gây hội chứng viêm loét dạ dày. Chất nhầy cũng có tác dụng bôi trơn làm cho thức ấn được vận chuyển dễ dàng. Chất nhầy được bài tiết khi có các kích thích cơ học (thức ăn chạm vào niêm mạc) hoặc kích thích hóa học (acetylcholin, prostaglandin...). Ngược lại, cortisol và aspừin ức chê bài tiêt chất nhầy. 3.2.6. Điều hoà bài tiết dịch vị Giữa các bữa ản, dạ dày vẫn bài tiết khoảng vài mililít dịch vị/1 giò. Đó là dịch vị cơ sỏ gồm chủ yếu là chất nhầy, một ít pepsinogen và hầu như không có acid. Khi ăn, dịch vị được điều hoồ theo cơ chế thần kinh Ví\ hormon. - Cơ chê thần kinh. + Dây thần kinh X đóng vai trò kích thích bài tiêt dịch vị thông quu phan xạ dài dây X - dây X (vago vagal reílex): xung itộng từ niôm mạc dạ (lAy theo nhánh cảm giác của dây X đến thân não rồi truyền vổ í,heo nhánh vận độntf cua dây X. phân nhánh vào đám rôì thần kinh Moissner. Từ đây có cốc Hựi cti đỏn các tuyến dạ dày. + Hệ thần kinh ruột (đám rốì Meissner) kích thích bài tiết dịch vị thỏng qua các phản xạ tại chỗ (phản xạ ngăn) tại thành dạ dày. Tất cả các tận cùng thần kinh cholinergic của dây X và hệ thồn kinh ruột đều giải phóng ra chất truyền đạt thần kinh acetylcholin, riêng các sợi thổn kinh đến tế bào G giải phóng ra chất truyền đạt thần kinh GRP (gastrin- releasing peptide). Acetylcholin kích thích tế bào viền bài tiết HC1, tế bào chính bài tiết pepsinogen và tế bào cổ bài tiết chất nhầy. GRP kích thích tế bào G của niêm mạc dạ dày và tá tràng bài tiết gastrin. Những tín hiệu kích thích khởi động các phản xạ dài và phản xạ tại chỗ xuất phát từ não, đặc biệt là hệ viền rồi theo dây X đến dạ dày. - Cơ chế hormon - Vai trò của gastrin và histamin. + Gastrin do các tê bào G vùng hang và tá tràng bài tiết dưối tác dụng kích thích của dây X, của sự căng dạ dày và sự có mặt của polypeptid trong dạ dày. Sau khi được bài tiết, gastrin sẽ theo máu đến các tuyến sinh acid ở đáy và thân dạ dày. Tác dụng chủ yếu của gastrin là kích thích tế bào viền bài tiết HC1. Gastrin cũng kích thích tế bào chính bài tiết pepsinogen nhưng ở mức độ thấp hơn nhiều. Sự bài tiết pepsinogen chủ yếu chịu tác dụng của acetylcholin. + Histamin: Histamin do các tế bào ưa crôm ở phần đáy của tuyến sinh acid bài tiết. Khi có mặt acid trong dạ dày, một lượng nhỏ histamin được bài tiết liên tục trong niêm mạc dạ dày. Histamin gắn với receptor H2 trên tế bào viền và kích thích tế bào này bài tiết HC1. Histamin có tác dụng hiệp đồng vối gastrin và acetylcholin trên tê bào viền: Khi cả 3 chất tác động đồng thời, sự có mặt của histamin vối số lượng rất nhỏ cũng làm tăng bài tiết HC1 của tế bào viền lên rất nhiều. Nếu ức chế tác dụng của histamin bằng thuốc phong toả receptor H2 của histamin (cimetidine) thì cả gastrin và acetylcholin chỉ gây bài tiết một lượng nhỏ HC1. + Một sô' hormon khác cũng ảnh hưởng đến bài tiết dịch vị: (1) Hormon tuỷ thượng thận adrenalin và noradrenalin làm giảm bài tiết dịch vị, (2) Corticoid làm tăng bài tiết HC1 và pepsin nhưng làm giảm bài tiết chất nhầy. Điều trị corticoid kéo dài có thể gây loét hoặc chảy máu dạ dày. - Tác dụng của sự thừa acid lên bài tiết dịch vị. Khi dộ acid của dịch vị tăng cao (pH < 3) cơ chế gastrin sẻ ngừng hoạt động do hai nguyên nhân: (1) Độ acid quá cao làm giảm hoặc ngừng bài tiết gastrìn, (2) Quá nhiều acid trong dạ dày gây phản xạ thần kinh ức chê để giảm bài tiêt dịch vị. Sự ức chế ngược này đóng vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ dạ dày chông lại dộ acid quá cao có thể dẫn tới loét dạ dày và duy trì pH tối thuận cho hoạt động của pepsin. Hai cơ chê thần kinh và hormon bổ sung cho nhau, điêu hoà lẫn nhau để kiểm soát sự bài tiết dịch vị. 3.2.7. Các giai đoan bài tiết dịch vị Sự bài tiết dịch vị đáp ứng với một bữa ăn được chia thành ba giai đoạn: giai đoạn đầu, giai đoạn dạ dày và giai đoạn ruột. Ba giai đoạn này gối lên nhau hoà vào nhau để kích thích bài tiết dịch vị khi thức ăn chưa vào dạ dày, ở trong dạ dày hoặc đã xuống ruột. - Giai đoạn đầu diễn ra trước khi thức ăn vào dạ dày. Khi ta ngửi, nhìn, nếm, thậm chí mói nghĩ đến thức ăn hoặc đang nhai, nuốt thức ăn thì dịch vị đã bài tiết. Ản càng ngon miệng, cưòng độ bài tiết dịch vị càng mạnh. Bài tiết dịch vị ở giai đoạn này theo cơ chế phản xạ không điều kiện và phản xạ có điêu kiện. Cả hai đều có đường truyền ra là dây X. Các trạng thái tâm lý cũng ảnh hưởng rõ rệt đến bài tiết dịch vị: giận dữ, hằn học làm tăng bài tiết; sợ hãi, lo âu làm giảm bài tiết. Dịch vị giai đoạn đầu chiếm khoảng 20% dịch vị toàn bữa ăn. - Giai đoạn dạ dày: Khi thức ăn vào dạ dày, được nhào trộn và tiêu hóa trong dạ dày thì các tín hiệu kích thích từ dạ dày sẽ khỏi động các phản xạ dây X, phản xạ tại chỗ và các cơ chế giải phóng gastrin, histamin. cả hai cơ chế thần kinh và hormon phối hợp vối nhau làm cho dịch vị được bài tiết liên tục trong suốt thời gian thức ăn lưu giữ ở dạ dày. Lượng dịch vị bài tiết trong giai đoạn này chiếm khoảng 70% dịch vị toàn bữa ăn. - Giai đoạn ruột: Thức ăn vào ruột non làm căng tá tràng, đồng thòi HC1 và các sản phẩm tiêu hóa protein trong vị trấp sẽ kích thích niêm mạc tá tràng giải phóng một lượng nhỏ gastrin. Gastrin theo máu đến kích thích các tuyến sinh acid của dạ dày bài tiết dịch vị. Dịch vị bài tiết trong giai đoạn ruột chỉ chiếm khoảng 10% dịch vị toàn bữa ăn. - Sự ức chế bài tiết dịch vị của ruột: Trong một sô điều kiện, các yếu tố ức chế bài tiết dịch vị của ruột có thể mạnh hơn các yếu tố kích thích. Ví dụ, khi vị trấp được đưa xuống tá tràng quá nhiều thì sự căng quá mức của ruột non cùng vối các thành phần có trong vị trấp sẽ khởi động các phản xạ ruột - dạ dày để ức chế bài tiết dịch vị. Các tín hiệu trên cững kích thích niêm mạc tá tràng và hỗng tràng bài tiết các hormon cholecystokinin, aecretin, GIP có tác dụng ức chế bài tiết dịch vị, đặc biệt cholecystokinin còn có tác dụng ngăn cản sự thoát vị trấp từ dạ dày xuống tá tràng.

    x

  • 10

    3.3. Kết quả tiêu hóa ở dạ dày. Nhờ các hoạt động cơ học, bài tiết và tiêu hóa ở dạ dày, thức ân được nghiền và trộn lẫn với dịch vị thành một chất bán lỏng gọi là vị trấp, trong đó một phần protein được tieu hóa thành proteose, pepton và polypeptid, một phần tinh bột chính thành đường maltose, maltotriose và oligosaccand. Md hâu như chưa được phân giải. 3.4. Hâp thu ở dạ dày Khả năng hấp thu của dạ dày không đáng kể vì bề mặt niêm mạc hẹp lại không có nhung mao. Một sô' chất có độ hoà tan trong mõ cao như rượu hoặc một số thuốc như aspirin có thể được hấp thu ở dạ dày với sô lượng ít.

    x

  • 11

    3.4. Hấp thu ở dạ dày

    x

  • 12

    4. Tiêu hóa ở ruột non

    x

  • 13

    4.1. Đặc điểm cấu tạo của ruột non Ruột non gồm tá tràng, hỗng tràng và hồi tràng. Ở người trưởng thành, ruột non dài 280 cm, trong đó tá tràng dài 22 cm. Đoạn đầu của tá tràng gọi là hành tá tràng. Hành tá tràng dễ bị loét vì thường xuyên chịu sự tấn công của HC1 từ dạ dày đưa xuống. Dây chằng Treitz là ranh giới giữa tá tràng và hỗng tràng. Sự phân chia hỗng tràng và hồi tràng chỉ là quy ước vì thực tế không có ranh giới giải phẫu giữa hai đoạn này. Niêm mạc ruột non chứa những hạch bạch huyết đơn độc nhưng ở hồi tràng các hạch bạch huyết tập trung thành từng đám gọi là các mảng Payer. Niêm mạc ruột non (hình 11.4) có hai loại tuyến: (1) Tuyến Briinner nằm ở đoạn đầu tá tràng, bài tiết chất nhầy, kiềm, (2) Các hốc Lieberkũhn nằm giữa các nhung mao, có mặt trên toàn bộ niêm mạc ruột non. Các tế bào của hốc Lieberkủhn bài tiết một lượng rất lổn nước, các chất điện giải và một ít chất nhầy. Ruột non có một bề mặt hấp thu rất rộng nhờ những cấu trúc đặc biệt: nếp gấp, nhung mao, vi nhung mao. Niêm mạc ruột non có nhiều nếp gấp goi là nếp gấp Kerckring hoặc van nếp ngang. Các nếp gấp Kerckring làm tang bề mặt hấp thu lên khoảng 3 lần. Phủ lên toàn bộ niêm mạc ruột non từ cơ vòng Oddi đến van hồi manh tràng là hàng triệu nhung mao dài khoảng 1 milimét. Chúng nằm sát nhau và làm tăng bề mặt hấp thu lên khoảng 10 lần. Cuoi cung mỗi te bào biểu IĨ1Ô ruột có một diểm bàn chải với khoảng 1.000 vi nhung mao co đương kính 0,1 micromet và dài 1 micromet. Các vi nhung mao làm bề mặt hâp thu tăng thêm 20 lần nữa. Như vậy, các nếp gấp, nhung mao và vi nhung mao làm bề mặt hấp thu tăng lên 1000 lân, diện tích này vào khoảng 250m2 đến 300m2 Ở giữa mỗi nhung mao có một hệ thông mạch để hấp thu nước, các chất hoà tan vào tĩnh mạch cửa và một ống bạch huyết trung tâm để hấp thu mỡ. Bên trong mỗi vi nhung mao của diềm bàn chải có rất nhiều tơ actin. Tơ actin co từng đợt gây ra sự vận động liên tục của vi nhung mao giúp chúng luôn tiếp xúc với dịch ruột mới.

    x

  • 14

    4.2. Hiện tượng cơ học Vận động ở ruột non được chia làm hai loại chính: co bóp phân đoạn (co bóp nhào trộn) và co bóp nhu động (co bóp đây). Trong một phạm vi rộng, sự phân chia này là giả tạo vì mọi vận động ở ruột non đều có cả hai tác dụng nhào trộn và đẩy với những mức độ khác nhau. Ngoài ra trong dạ dày và ruột non còn có một loại vận động đặc biệt gọi là phức hợp vận động di chuyển (migrating motor complex). Khi thức ăn vào ruột non (lúc này được gọi là nhũ trấp) sự căng thành ruột sẽ kích thích gây ra các co bóp đồng tâm ở những khoảng nhất định dọc theo ruôt non. Chiểu dài của mỗi đoạn co bóp vào khoảng 1 cm. Một nhóm co bóp như vậy sẽ chia ruột non thành từng đoạn giông hình ảnh một chiếc xúc xích (hình 11.5). Khi một nhóm co bóp phân đoạn giãn ra, một nhóm co bóp khác bắt đầu tại những điểm mới, ở giữa các co bóp trước. Như vậy, những đoạn ruột trước co thì nay giãn ra và những đoạn trước đang giãn thì nay co lại. 4.2.1. Co bóp phân đoạn Ruột đang giãn Hình 11.5. Co bóp phân đoạn của ruột non Co bóp phân đoạn có tác dụng trộn thức ăn vối các dịch tiêu hóa và luôn luôn đưa thức ăn mới đến tiếp xúc vối các tê bào hấp thu và những enzym trên bề mặt của chúng. 4.2.2. Co bóp nhu động Co bóp nhu động đẩy nhũ trấp dọc theo ruột về phía ruột già với tôc độ 0,5 đến 2 cm/giây. Tốc độ này nhanh hơn ổ tá tràng và phần trên hỗng tràng, sau đó chậm dần. Hầu hết co bóp nhu động là những sóng yếu, thường tắt sau khi dịch chuyển được khoảng 3 đến 5 cm . Vì vậy, phải mất 3 đến 5 giò, các co bóp nhu động mối đẩy được nhũ trấp từ tá tràng tới van hồi - manh tràng. 4.2.3. Phức hợp vận động di chuyển Giữa các bữa ăn, khi cơ thể bị đói, cứ cách một khoảng thời gian độ 90 phút lại có những sóng nhu động mạnh đi từ dạ dày dọc theo ruột đen van hồi manh tràng. Đó là những phức hợp vận động di chuyển. Trong khi sóng nhu động thông thường chỉ di chuyển được vài centimet rồi tắt thì các phức hợp vận động di chuyển đi dọc theo toàn bộ chiều dài của ruột từ dạ dày đến đoạn cuối ruột non. Các phức hợp vận động di chuyển “quét” sạch những mẩu thức ăn chất nhầy, các dịch tiêu hóa dư thừa và các tế bào ruột non bị bong rơi vào lòng ruột, do đó giữ cho dạ dày và ruột non được sạch sẽ giữa các bữa ăn. Nếu không có những phức hợp vận động di chuyển này trong ruột vì lý do bệnh lý thì vi khuẩn sẽ phát triển quá mức trong ông tiêu hóa gây ra rôì loạn hấp thu. Hoạt động của hệ thần kinh ruột sinh ra các phức hợp vận động di chuyển. Các phức hợp này bị ức chế trong lúc ăn một phần do hoạt động cua dây X tăng lên, một phần do tác dụng của các hormon gastrin và cholecystokinin. Ngược lại, hormon motilin làm tăng các phức hợp vận động di chuyển. 4.2.4. Điểu hoà vận động ruột non Nhìn chung vận động của ruột non được điều hoà theo cơ chế thần kinh và hormon, tuy nhiên tác dụng sinh lý của các hormon gastrin và cholecystokinin trên vận động ruột non vẫn còn đang được bàn cãi. Kích thích thần kinh phó giao cảm làm tăng vận động ruột trong khi kích thích giao cảm có tác dụng ngược lại. Sự có mặt của những chất độc hại trong lòng ruột có thê gây ra các sóng phản nhu động (nhu động ngược chiều) gây nôn, hoặc những co bóp đây rất mạnh xuống phía hậu môn gây ỉa chảy. Các trạng thái cảm xúc cũng có thể ảnh hưởng đến vận động ruột. Trong chứng tăc ruột do liệt ruột (paralytic ileus), tắc ruột không phải do nguyên nhân cơ học mà là do ruột không co bóp. Bệnh nhân bị chướng bụng, buồn nôn và nôn. Nguyên nhân do hoạt động cua hẹ thần kinh ruột bị ức chế hoàn toàn và hoạt động của nơron ức chế tăng lên. Việc sờ nắn vào các quai ruột trong phẫu thuật ổ bụng có thể gây ra đáp ứng phản xạ theo các dây hướng tâm truyền về thân não rồi theo các sợi giao cảm đen ruột đe ức chế vận động ruột. 4.2.5. Vận động của nhung mao Một sô sợi cơ trơn của lớp cơ dưới niêm mạc đi vào các nhung mao làm chúng co bóp theo nhịp: ngắn lại, dài ra rồi ngắn lại. Vận động của nhung mao giúp dịch bạch huyết chảy từ ông bạch huyết trung tâm vào hệ bạch mạch, vận động của nhung mao cũng có tác dụng “khuấy” vào nhũ trấp xung quanh nhung mao, do đó thường xuyên đưa nhũ trấp mới đến tiếp xúc với nhung mao để được hấp thu. Khi nhũ trấp vào ruột non, vận động của nhung mao được khởi động thông qua các phản xạ tại chỗ trong đám rối Meissner. 4.2.6. Vai trò của cơ thắt hồi manh tràng Cơ thắt hồi manh tràng kiểm soát sự thoát nhũ trấp từ hồi tràng vào manh tràng và tác dụng như một cái van ngăn cản sự trào ngược của thức ăn trở lại hồi tràng. Bình thường, cơ thắt hồi manh tràng co nhẹ. Các kích thích cơ học, hóa học hoặc áp suất ở hồi tràng làm giãn cơ thắt hồi manh tràng và thức ăn thoát khỏi hồi tràng. Ngược lại, những kích thích từ phía manh tràng làm cho cơ thắt hồi manh tràng co mạnh hơn nữa và ngăn cản sự trào ngược thức ăn. Như vậy, thức ăn từ hồi tràng được đưa từng đợt vào manh tràng.

    x

  • 15

    4.3. Bài tiết dịch và tiêu hóa ở ruột non 🆗 4.3.1. Dịch tụy Tuyến tụy là một tuyến pha có cấu trúc bên trong giống cấu trúc của tuyến nước bọt. Phần tụy nội tiết (các tiểu đảo Langerhans) chỉ chiếm 1% khổi lương của tuyến, bài tiết insulin và glucagon. Các nang tụy bài tiết các enzym tiêu hóa trong khi các ống tuyến tụy bài tiet một lượng rất lớn dung dịch bicarbonat kiềm. Dịch tụy chảy vào ống Wirsung, ông này hợp với ông mật chủ ơ bong Valter rồi đổ vào ta tràng qua cơ thắt Oddi. 4.3.1.1. Thành phần và tác dụng dịch tụy - Các enzym Mỗi ngày tụy ngoại bài tiết khoảng 1000 ml dịch. Dịch tụy là một dịch kiềm chứa nhiêumuoi bicarbonat và tất cả các loại enzym cần cho sự tiêu hóa các chất dinh dưdng, bao gồm: (1) Nhóm enzym tiêu hóa protein (trypsin, chymotrypsin, elastasẻ, carboxypeptidase), (2) Enzym tiêu hóa glucid (amylase), (3) Enzym tiêu hóa lipid ỏipase, phosphoỉipase A2 cholesterol esterase), (4) Enzym tiêu hóa acid nucleic (ribonuclease, desoxyribonuclease). Hầu hết các enzym của dịch tụy (trừ amylase và lipase) đựợc bài tiet dươi dạng tiền enzym không hoạt động va được bọc trong các hạt zymogen Các hạt zymogen sẽ chuyển thành ẽnzym hoạt động ngay khi chúng tiếp XÚC VỚI enzym enterokinase khu trú ở diềm bàn chải của tế bào ruột. Enterokinase chuỵen trypsinogen thành trypsin, rồi trypsin sẽ hoạt hóa các zymogen, cụ the la chuyển chymotrypsinogen thành chymotrypsin, chuyên procarboxypẹptidase thành carboxypeptidase và proelastase thành elastase. Như vậy, trypsin đong vai trò trung tâm kiểm soát hoạt động của các enzym khác. Dưới đây là bảng tóm tắt tác dụng của các enzym tiêu hóa của dịch tụy. Các enzym tiêu hóa lipid là những hợp chất hoà tan trong nước. Chúng chỉ có thể tấn công các hạt mõ trên bề mặt của chúng. Vì vậy, bước đầu tien cua tiêu hóa mỡ là mỡ phải đươc nhũ tương hóa: Muối mạt và lecỉthin lam giam sức căng bề mặt của các hạt cầu mỡ và chỉ khi sức căng bề mặt giảm thì cac co bop của dạ dày và ruột mổi làm vỡ được những hạt cầu mỡ thảnh nhiều hạt co kích thước rất nhỏ. Khi đường kính của hạt cầu mõ giảm đi một nửa thì be mạt cua nó tăng lên gấp đôi. Quá trình nhũ tương hóa mỡ làm chỏ bề mặt tiep xuc cua mỡ vối enzym tảng lên khoảng một ngàn lần. Tụi sao tụy không bị tiêu hóa bỏi các enzym tiêu hỏa của tụy? Tụy có các cơ chê tự bảo vệ như sau: (l) Các enzym được tổng hợp và bài tiết dưoi dạng zymogen không hoạt động và 8ự hoạt hóa của chúng bình thường chỉ xảy ra ở ruột non, (2) Các enzym tiêu hóa được chứa trong các túi (các hạt zymogen) của cốc tệ bào nang, (3) Các tê bào nnng cũng tổng hợp và bài tiết chất ức chế trypsịn. Chất này chông lại sự hoạt hóa sớm của trypsinogen, Chất ức chế trypsin được gói cùng với trypsinogen trong các hạt zymogen. Vì trypsin hoạt hóa các enzym tiêu protein khác của tụy và cả phospholipase Ag nên chât ớc chê trypsin củng ngăn cản sự hoạt hóa của các enzym này. - Sự bài tiết dung dịch bicarbonat kiểm: Các tế bào biểu mô của ống tuyến tụy bài tiết một sô lượng rất lớn dung dịch bicarbonat theo các bước như sau: (1) C02 khuếch tán từ máu vào tế bào biểu mô. Trong tế bào C02 kết hợp với nước dưới tác dụng của enzym carbonic anhydrase để tạo thành H2COrr H2C03 phân ly thành H+và HC03“, sau đó ion HC03“ được vận chuyển tích cực vào lòng Ống. (2) lon H+ từ tê bào vào máu để trao đổi với ion Na+ từ máu vào tế bào theo cơ chế vận chuyển tích cực thứ phát. Sau đó ion Na+ khuếch tán từ tế bào vào lòng Ống. (3) Nước từ máu đi qua tế bào vào lòng ống để cân bằng áp suất thẩm thấu. Kêt quả là dung dịch bicarbonat được tạo ra ở tụy, có pH=8. Thành phần bicarbonat của dịch tụy đóng vai trò quan trọng trong việc trung hoà acid của dịch vị ở tá tràng và tạo ra pH tối thuận cho hoạt động của các enzym tiêu hóa (pH trung tính hoặc hơi kiềm). 4.3.1.2. Điều hoà bài tiết dịch tụy Dịch tụy được bài tiết theo cổ chê thần kinh và hormon. Khi ăn, sự bài tiết của dịch tụy có thể được chia thành ba giai đoạn: giai đoạn đầu, giai đoạn dạ dày và giai đoạn ruột. - Trong giai đoạn đầu: sự nhìn, ngửi, nếm, nghĩ đến thức ăn hoặc nhai và nuốt kích thích bài tiết dịch tụy thông qua các sợi cholinergic của dây X đi đến các tế bào nang tụy. Dịch tụy của giai đoạn này chứa nhiều enzym và chiem khoảng 20% dịch tụy toàn bữa ăn. - Giai đoạn dạ dày: Sự căng của dạ dày khỏi động phản xạ dài dây X - dây X. Acetylcholin được giải phóng đi đến kích thích cả tế bào nang và tế bào ông tuyến tụy nhưng lượng enzym được bài tiết nhiều hơn dung dịch bicarbonat. Dịch tụy ở giai đoạn dạ dày thường ít, chỉ chiếm 5 đến 10%. - Giai đoạn ruột: Dịch tụy được bài tiết trong giai đoạn này rất nhiều, chiêm khoảng 70 đến 80%. Có 3 cơ chế tham gia: (1) Nồng độ ion H+ trong tá tràng kích thích tế bào s giải phóng hormon secretin. Secretin kích thích tế bào ống bài tiêt dung dịch bicarbonat, (2) Các acid béo, acid amin, peptid kích thích tê bào I của tá tràng và hỗng tràng giải phóng hormon cholecystokinin. Cholecystokinin kích thích cả tế bào nang bài tiết enzym và tê bào ông bài tiết dung dịch bicarbonat, (3) lon H+, acid béo, peptid trong lòng ruột cũng kích thích bài tiết dịch tụy, đặc biệt là các enzym thông qua phản xạ dây X - dây X. 4.3.2. Dịch mật 4.3.2.1. Sự bài tiết dịch mật ở gan Gan bài tiết mật qua hai giai đoạn: (1) Đầu tiên các tế bào gan sản xuất ra mật, gọi là “mật đầu” chứa một lượng lớn acid mật, cholesterol và các thành phần hữu cơ khác. Mật được bài tiết vào các tiểu quản mật nằm giữa các tế bào gan trong các bè gan, (2) Đến vách liên thuỳ, các tiểu quằn mật đổ vào các ống tận, rồi vào những ông mật có kích thước ngày càng lớn hơn, cuối cùng đến ống gan và ông mật chủ. Từ ông mật chủ, mật chảy trực tiếp vào tá tràng hoặc qua ống túi mật đổ vào tích trữ trong túi mật. Trong quá trình chảy qua những ong mật này, mật đâu được bô sung thêm dung dịch bicarbonat làm cho khối lương toàn phần của mật tăng gấp đôi. Như vậy bicarbonat của dịch mật sẽ cùng VỚI dịch tụy trung hoà acid của dịch vị ở tá tràng. Bài tiết mật tăng khi nồng độ muôi mật trong tĩnh mạch cửa tăng. Uống một lượng lớn muôi mật có thể làm cho lượng mật bài tiết tăng lên vài trăm mililít mỗi ngày. Kích thích phó giao cảm làm tăng bài tiết mật trong bữa ăn. Secretin kích thích các tế bào ông mật sản xuất dung dịch bicarbonat. 4.3'2.2. Dự trữ mật trong túi mật Mật được tế bào gan bài tiết liên tục và được chứa trong túi mật cho đến khi tá tràng cần đến. Thể tích tối đa của túi mật vào khoảng 20 đến 60 ml, tuy nhiên lượng mật được bài tiết trong 12 giò là 450 ml vẫn có thể được dự trữ trong túi mật là vì nước, Na*, cr và các chất điện giải khác được niêm mạc túi mật hấp thu liên tục. Vì vậy, các thành phần khác của mật như muổì mật, cholesterol, lecithin, bilirubin được cô đặc trong túi mật. Trong quá trình hấp thu nưốc và các chất điện giải, Na+ được vận chuyển tích cực qua tế bào biểu mô túi mật, kéo theo sự hấp thu thứ phát của cr, nưóc và các thành phần khác. Bình thường mật được cô đặc khoảng 5 lần. Khả năng cô đặc tối đa có thể tới 12 đến 20 lần. 4.3.2.3. Thành phần của mật Thành phần của mật ỏ gan và ở trong túi mật khác nhau. Thành phần chủ yếu của mật là muôi mật, chiếm khoảng 50% các chất hoà tan của mật. Ngoài ra, trong mật còn có bilirubin, cholesterol, lecithin và các chất điện giải. Trong quá trình cô đặc ỏ túi mật, nưốc và các chất điện giải (trừ ion Ca2+) được tái hấp thu qua niêm mạc túi mật. Muôi mật, cholesterol, lecithin được cô đặc ỏ túi mật. 4.3.2.4. Sự bài xuất mật Mật được bài xuất từ túi mật vào tá tràng nhò sự co bóp của túi mật và sự giãn của cơ vòng Oddi. Bài xuất mật được điều hoà theo cơ chế thần kinh và hormon. - Cơ chế thần kinh: Acetylcholin do các sợi cholinergic của dây X và của hệ thần kinh ruột làm tăng co bóp túi mật nhưng tác dụng này tương đối yếu. - Cơ chê hormon: sự có mặt của mõ trong thức ân ở tố tràng sẽ kích thích niêm mạc tá tràng và phần trôn hỗng tràng bài tiết cholecystokinin. Cholecystokinin làm túi mật co bóp theo nhịp đồng thời làm giãn cơ vòng Oddi và mật được bài xuất vào tá tràng. Ngoài ra, cơ Oddi cũng giãn ra dưới tác dụng cua nhu động ruột. Khi sóng nhu động đi qua tá tràng, pha giãn của sóng làm giãn cơ trơn thành ruột và cũng làm giãn cơ vòng Oddi, mật được giải phóng vào tá tràng như những tia đồng bộ với các sóng nhu động của tá tràng. Cholecystokinin là hormon chủ yếu gây bài xuất mật. Khi không có mỡ trong thức ăn, sự bài xuất mật rất yếu. Ngược lại, khi có một lượng mỡ thích hợp, sự bài xuất mật được hoàn tất trong vòng một giờ. 4.3.2.5. Tác dụng của muối mật Các tế bào gan sản xuất ra khoảng 0,5 gam muôi mật mỗi ngày từ cholesterol do thức ăn cung cấp hoặc được tổng hợp trong các tê bào gan. Cholesterol được chuyển thành acid cholic hoặc acid chonodesoxycholic với lượng băng nhau. Các acid này gắn với glycin và taurin để tạo ra acid glycocholic và acid taurocholic. Muôi của các acid này được bài tiêt vào mật. Muôi mật đóng vai trò quan trọng trong tiêu hóa và hấp thu mỡ. - Muôi mật giúp cho quá trình nhũ tương hóa mỡ làm tăng diện tích tiêp xúc của các hạt cầu mỡ vói các enzym tiêu hóa mỡ. - Muôi mật giúp cho sự tiêu hóa và hấp thu của các acid béo, monoglycerid, cholesterol và các iipid khác ở ruột non nhờ các mixen muối mật. Sự thuỷ phân triglycerid thành monoglycerid và acid béo là một quá trình thuận nghịch, nếu monoglycerid và acid béo không được lấy đi chúng sẽ ngăn cản sự tiêu hóa tiếp tục của mỡ. Mixen muốỉ mật là những hạt cầu nhỏ, đưòng kính từ 2 đến 6 nanomet, được cấu tạo từ 20 đến 40 phân tử muối mật (hình 11.6). Mỗi phân tử muôi mật gồm một nhân sterol hoà tan trong mỡ và một nhóm cực hoà tan trong nước. Các nhân sterol cùng với các phân tử mỡ tập hợp ở trung tâm của hạt mixen trong khi các nhóm cực cùa muôi mật quay ra phía ngoài trên bề mặt của hạt mixen. Các nhóm cực tích điên âm làm cho các hạt mixen hoà tan và giữ được dạng ổn định trong nhũ trấp. Trong quá trình tiêu hóa triglycerid, các nhóm kỵ nưốc nhân tử monoglycerid và acid béo vừa được tạo ra hoà tan ngay vào trung tâm của hạt mixen, do đó làm giảm nồng độ của chúng ở vùng lân cân các hạt cầu mỡ đang được tiêu hóa và không ảnh hưởng đến tôc độ thuy phân md. Nhưng hạt mixen vận chuyên các phân tử monoglycerid và acid béo đên diêm bàn chai cua tê bào biêu mô ruột. Ớ đó monoglycerid và acid béo được hâp thu. Các hạt mixen quay trơ lại lòng ruột để tiêp tục vận chuyển các phân tử mỡ khác. Nếu không có muôi mật trong ruột non, trên 40% lipid bị mất theo phân, bệnh nhân bị rôl loạn chuyển hóa do mất mõ. 4.3.2.6. Tuần hoàn ruột- gan của mật Sô lượng muôi mật trong cơ thể thấp hơn rất nhiều so vổi sô muốỉ mật cần cho sự tiêu hóa và hấp thu mỡ. Trong một bữa ăn bình thường, lượng muối mật được bài xuất vào tá tràng nhiều gấp đôi số lượng IĨ1UỐỈ mật của cơ thể. Tuần hoàn ruột - gan của muôi mật nghĩa là sự tái tuấn hoàn của muôi mật giữa ruột và gan cho phép cơ thể tái sử dụng muôi mật nhiều lần Sau khi tham gia vào quá trình tiêu hóa và hấp thu mỡ, khoảng 94% muối mật được tái hấp thu tích cực qua niêm mạc hồi tràng rồi theo tĩnh mạch cửa về gan. Tại đây toàn bộ muôi mật được hấp thu vào các tế bào gan rồi lại được bài tiết vào ống mật. Bằng cách này trên 90% muối mật được đưa trở lại gan. Một sô" lượng nhỏ muôi mật (khoảng 5%) đào thải theo phân sẽ được thay thế bởi những muối mật mới được sản xuất ra liên tục ở gan. 4.3.2.7. Sự bài tiết cholesterol và sự hình thành sỏi mật Các tế bào gan sản xuất muổì mật từ cholesterol. Trong quá trình bài tiết muôi mật, khoảng 1/10 cholesterol cũng được bài tiết theo mật (1-2 gam một ngày). Trong mật, cholesterol không có chức năng gì, nó đơn giản chỉ là một sản phẩm phụ trong quá trình sản xuất và bài tiết muối mật. Cholesterol không hoà tan trong nưốc nhưng được giữ trong các hạt mixen. Trong quá trình cô đặc mật ở túi mật, muôi mật, lecithin được cô đặc cùng vối cholesterol và giữ cholesterol trong dung dịch. Nếu có quá nhiều cholesterol so với muổỉ mật và lecithin, cholesterol có thể bị kết tủa tạo thành sỏi mật. 4.3.3. Dịch ruột 4.3.3.1. Các tuyến của ruột non Mỗi ngày các tuyến Brũnner và tuyến Lieberkiihn bài tiết khoảng 1800 ml dịch ruột. Dịch ruột gồm nước, các chất điện giải, chất nhầy và các tế bào bị bong ra. pH dịch ruột từ 7,5 đên 8. - Tuyến Brủnner khư trú ở đoạn đầu tá tràng và bài tiết chất nhầy khi: + Thức ăn kích thích niêm mạc tá tràng. + Kích thích dây X. + Có mặt hormon secretin. Chất nhầy có tác dụng bảo vệ thành tá tràng khỏi tác dụng tiêu hóa của dịch vị. Các tuyến Briinner bị ức chế bởi cốc kích thích giao cảm, như vậy có nghĩa là kích thích giao cảm làm cho hành tá tràng mất cờ chê hảo vệ, có thể đó là một trong những yếu tố làm cho hành tá tràng dễ bị loét hơn các nơi khác (chiếm tỷ lệ 50%). - Các hốc Lieberkiihn khư trú trên toàn bộ bề mặt của ruột non năm giữa các nhung mao. Bề mặt của hốc Lieberkuhn và của nhung mao được bao phủ bởi một lớp biêu mô gồm hai loại tế bào: một sô ít tế bào có chân bài tiết chât nhầy và một sô lượng lớn tê bào ruột. Các tê bào ruột trong hốc Lieberkiihn bài tiết nhiều nước và chất điện giải trong khi các tế bào ruột trên bê mặt nhung mao có chức năng tái hấp thu nước, chất điện giải cùng các sản phẩm tiêu hóa cuôi cùng. 4.3.3.2. Cơ chê bài tiết dịch ruột Các ion cr được bài tiết từ tê bào vào hốc Lieberkũhn theo cơ chê vận chuyên tích cực, Na+ khuếch tán thụ động theo ion Cl'. Ion HC03 cũng được bài tiết tích cực vào hôc Lieberkủhn. Sự vận chuyển của các ion này tạo ra một áp lực thâm thấu kéo nưốc từ dịch ngoại bào vào hốc. Sau khi được bài tiêt vào hôc Lieberkũhn, dịch ruột nhanh chóng được tái hấp thu vào máu qua các nhung mao tạo ra một phương tiện để hấp thu các chất từ lòng ruột vào máu khi nhũ trấp tiếp xúc với nhung mao. Dịch ruột cũng đóng vai trò quan trọng trong việc giữ cho nhũ trấp ỏ dạng lỏng. Độc tô" của vi khuẩn tả làm tăng quá trình vận chuyển tích cực của ion cr do đó làm cho tốc độ bài tiết dịch vào hốc Lieberkủhn tăng lên nhiều lần. Trong ngày đầu tiên, bệnh nhân có thể mất từ 5 đến 10 lít dịch khỏi ống tiêu hóa. Sự mất quá nhiều nước gây sốc tuần hoàn có thể dẫn đến tử vong trong vài giờ. 4.3.3.3. Điều hoà bài tiết dịch ruột - Cơ chế thần kinh: Cơ chế thần kinh đóng vai trò quan trọng. Sự có mặt của nhũ trấp trong ruột non sẽ gây ra các phản xạ ruột tại chỗ để kích thích bài tiết dịch ruột. Lượng nhũ trấp càng lớn thì dịch ruột được bài tiết càng nhiều. - Cơ chê hormon: Các hormon secretin, cholecystokinin cũng kích thích bài tiết dịch ruột. Chức năng hấp thu và chức năng bài tiết dịch của ruột độc lập với nhau và có những cơ chế kiểm soát khác nhau, do đó chức năng hấp thu có thể vẫn diễn ra bình thương khi chức năng bài tiết bị kích thích quá mức do độc tố vi khuẩn. 4 3 3.4. Các enzym tiêu hóa của dịch ruột Các tế bào biểu mô của niêm mạc ruột, đặc biệt là diềm bàn chải của các tế bào biểu mô của nhung mao chứa một số enzym tiêu hóa. Chúng xúc tác cho quá trình thuỷ phân của thức ăn ở mặt ngoài các vi nhung mao thành những sản phẩm cuối cùng có the hấp thu được rồi đi qua tế bào bieu mô vào máu Cac enzym ỏ diềm bàn chải của tê bào biếu mô ruột gồm: Enzym tiêu hóa protid: Các enzym aminopolypeptidase và dipeptidasíỉ thuỷ phân polypeptid thành tripeptid, dipetid và một ít acid ainin. Các phân tử này được vận chuyên dê dàng qua màng vi nhung mao vào bên trong tê bào. Trong bạo tương cua tê bào ruột có nhiều enzym peptidase. Dưới tác dụng cua các peptidase này tất cả tripeptid và dipeptid được thuỷ phân thành acid arnin trong vòng vài phút. - Enzym tiêu hóa lipid: Một sô lipase ruột non phân giải triglycerid thành glycerol và acid béo. Do sô lượng ít nên tác dụng của lipase ruột non không quan trọng. - Enzym tiêu hóa glucid gồm: + Isomaltase thuỷ phân oligosaccharid thành glucose. + Maltase thuỷ phân maltose và maltotriose thành glucose. + Sucrase thuỷ phân sucrose thành glucose và ửuctose. + Lactase thuỷ phân lactose thành glucose và galactose. Một số người không có enzym lactase, hay gặp ở những người Mỹ gốc Phi, ngưòi Ả Rập, ngưòi Hy Lạp... Những người này thường bị chứng không dung nạp lactose (lactose intolerance). Lactose không được thuỷ phân bị giữ lại trong ruột và kéo nước vào ruột. Sau đó các vi khuẩn ruột già sẽ phân giải lactose thành acid lactic, C02 và khí hydrogen gây đầy bụng và chưống bụng. Sự căng thành ruột làm tăng nhu động ruột cộng vối tác dụng thẩm thâu của acid lactic và các lactose không được tiêu hóa sẽ gây ỉa chảy. Có thể khắc phục chứng không dung nạp lactose bằng cách tránh dùng các sản phẩm sữa hoặc xử lý sữa bằng lactase trước khi uống hoặc uông các viên lactase cùng với sữa. 4.3.4. Kết quả tiêu hóa ở ruột non Nhờ các enzym tiêu hóa của dịch tụy, dịch ruột và muôi mật, các thức ăn protein, glucid, lipid được tiêu hóa thành những sản phẩm cuôl cùng có thể hấp thu được là các acid amin, các monosaccharid (chủ yếu là glucose), acid béo, glycerol.

    x

  • 16

    4.4. Sự hấp thu ở ruột non Có khoảng 8 đến 9 lít dịch được hấp thu mỗi ngày bao gồm các dịch tiêu hóa (7 lít) và dịch của thức ăn, đồ uống đựa vào. Khoảng 7,5 lít dịch được hấp thu ỏ ruột non, 1,5 lít còn lại sẽ qua van hồi manh tràng để xuống ruột già. Sự hấp thu xảy ra chủ yếu ỏ ruột non vĩ những lý do sau: - Diện tích hấp thu ở ruột non rất lớn (từ 250 đến 300 m2) nhò các cấu trúc đặc biệt của niêm mạc ruột non, các nếp gấp, nhung mao, vi nhung mao làm tăng diện tích hấp thu của niêm mạc ruột lên gấp hơn một ngàn lần. Ngoài ra diểm bàn chải của tế bào biểu mô ruột có nhiều enzym tiêu hóa và các loại protein mang khác nhau giúp cho sự vận chuyên các chât vào tế bào. - Chỉ ở ruột non các chất dinh dưỡng mối được tiêu hóa triệt để thành những sản phẩm cuối cùng có thể hấp thu được. 4.4.1. Hấp thu glucid Ị Tất cả monosaccharid trong ruột non được hấp thu hoàn toàn qua các tế bào biêu mô ỏ đoạn cuôi hỗng tràng. - Hấp thu của glucose và galactose + Từ lòng ruột, glucose được vận chuyến qua diềm bàn chải vào tế bào bieu mô theo cơ chế vận chuyển tích cực thứ phat (đong vận chuyển với Na ). Glucose đi vào tê bào làm nồng độ glucose trong tê bào tăng cao rồi glucose khuech tan qua màng đáy bên của tê bào để vào máu theo cơ chê khuêch tán thuận hoa. Toc độ hấp thu tối đa của glucose là 120 gam/giò. + Galactose cũng được vận chuyển vào tế bào bởi cùng một protein mang, do đó nó cạnh tranh vói glucose để được hấp thu. - Hấp thu của íructose: íructose được vận chuyển vào tế bào theo cơ chế khuếch tán thuận hóa. Ở trong tế bào írúctose được chuyển thành glucose rồi vào máu theo cơ chế khuếch tán thuận hóa. 4.4.2. Hấp thu protein Sản phẩm tiêu hóa cuối cùng của protein ồ ruột non là tripeptid, dipepid và một ít acid amin. Các protein mang đặc hiệu khu trú ở diềm bàn chải vận chuyển các peptid cùng với các ion H+ vào trong tế bào ruột theo cơ chế đồng vận chuyển (vận chuyển tích cực thứ phát). Các dipeptid và tripeptid vào nội bào được chuyển ngay thành acid amin dưói tác dụng của các peptidase nội bào, sau đó các acid amin vào máu theo cơ chế khuếch tán thuận hóa. Các acid amin được hấp thu chậm hơn các peptid. Có 6 loại chất mang khác nhau trên diềm bàn chải để vận chuyển 6 loại acid amin tương ứng vào tế bào theo cơ chế đồng vận chuyển với Na+. Sau đó các acid amin sẽ qua màng đáy - bên vào máu theo cơ chế khuêch tán thuận hóa. Sự hấp thu acid amin xảy ra rất nhanh ở tá tràng và hỗng tràng nhưng chậm lại ở hồi tràng. Khoảng 15% protein trong thức ăn sẽ đi xuống ruột già và được tiêu hóa dưối tác dụng của vi khuẩn. Các protein trong phân la protein nội sinh trong ống tiêu hóa (vi khuẩn, chất nhầy, enzym tiêu hóa và các tê bào ruọt non bị bong ra). Ở trẻ em, một sô' protein chưa được tiêu hóa cũng có thể được hấp thu vào máu theo cơ chê ẩm bào. Ví dụ, các protein kháng thể từ sữa non của mẹ có thể được hấp thu vào máu tạo ra miên dịch thụ động giúp trẻ chống lại các tắc nhân gây bệnh. Do trẻ em có thê hấp thu các phân tử protein chưa được tiêu hóa các protein kháng nguyên vào hệ thông tuân hoàn sẽ kích thích tạò kháng thể và phản ứng kháng nguyên - kháng thê có thê gây các triệu chứng dị ứng Di ứng vói thức ăn sẽ mất dần khi trẻ lớn lên. 4.4.3. Hấp thu lỉpid (hỉnh 11.7) Sản phẩm tiêu hóa cuối cùng của mỡ trung tính là acid béo và monoglycerid. cả hai được hoà tan trong phần lipid trung tam cua cac hat mixen. Các hạt mixen vận chuyên acid béo và monoglycerid đến diem bàn chai rôi giai phóng chúng và quay lại lòng ruột tiếp tục vộn chuyển các phân tư mờ khác. Tại diềm bàn chải, do có độ hoồ tan trong mè cao nên các acid béo và monoglycend de dàng khuếch tán qua lớp lipid kép của mồng tế hào cỉê vàơ bọn trọng tê bào biêu mô. Trong mạng nội bào tương trơn, acid béo và monoglyceríd lại tái kêt hợp đê tạo thành triglycerid, Ngoài ra, một sô monoglyccrid được phân giai thành acid béo và glycerol dưới tốc dụng của enzym lipase của tệ bào biêu mô, glycerol được hấp thu vào máu còn acid béo được đưa vào mạng nội bào tương đê tái tạo triglycerid. Các triglycerid mới được tạo thành, các cholesterol được tái ester hóa và các phospholipid kết tụ lại thành các hạt cầu mỡ. Cuối cùng, các phân tử apolipoprotein được gắn lên bể mặt hạt cầu mỡ tạo thành các hạt lipoprotein có đưòng kính từ ioo đến 500 nanomet gọi là chylomicron. Chylomicron được gói vào trong các túi bài tiết rồi bị đẩy ra khỏi tế bào qua màng đáy- bên bằng cơ chế xuất bào (exocytosis). Từ khoảng kẽ giữa các tế bào, chylomicron đi vào các ống bạch huyết trung tâm rồi theo hệ bạch mạch qua ống ngực đổ vào tĩnh mạch dưới đòn. Khoảng 80 đến 90% mỡ trong ông tiêu hóa được hấp thu dưới dạng chylomicron. Các phân tử apolipoprotein đóng vai trò quan trọng trong cơ chế xuất bào của các chylomicron, chúng giúp các hạt cầu mỡ gắn vào màng tế bào rồi mới bị đẩy ra ngoài. Những người bị bệnh di truyên không có khả năng tổng hợp apolipoprotein thì các tế bào biểu mô ruột sẽ chứa đầy mỡ do quá trình xuất bào không thực hiện được. Các acid béo mạch ngắn (từ 6 đến 12 C) không tham gia vào quá trình tái tạo triglycerid trong mạng nội bào tương sẽ được hấp thu trực tiếp vào hệ mạch cửa. Nếu ăn một lượng mõ vừa phải thì khoảng trên 95% mỡ tiêu hóa sẽ được hấp thu. Các hormon vỏ thượng thận làm tăng sự hấp thu mỡ vào hệ bạch mạch nhưng không ảnh hưởng đến sự hấp thu các acid béo mạch ngắn vào tĩnh mạch cửa. Rối loạn hấp thu mỡ có thể do những nguyên nhân sau: (1) cắt dạ dày nên mỡ không được nhũ tương hóa hoàn toàn, (2) Bệnh của tụy nên thiếu lipase tụy, (3) Bệnh của gan nên thiếu muối mật, (4) Bệnh của ruột non nên diện tích hấp thu giảm, sự tạo ra các chylomicron giảm 4.4.4. Hấp thu vltarnin - Các vitamin tan trong mờ (A, D, E, K) được hấp thu KÌônK như cơ chế hấp thu của cốc phốn tử mâ. - Cốc vitamin tan trong nước (vitumin nhỏm B, acid f()Iíc, vitamin c...) được hấp thu nhanh theo cơ chế khuếch tủn vồ cơ chố vộn chuyển tích cực, Riêng vitamin B,2 được hấp thu theo một cơ chế độc biệt: ỏ dọ dồy dưới tác dụnK của HC1 và pepsin, vitamin B,2 được giải phóng khỏi protein thức An. Sau đó vitnmin ®12 với haptocorrin, một glycoprotein có trong nước bọt được nuot cùng với thức ản vào dạ dày. Ở tá tràng, haptocorrin bị các enzym protease của dịch tụy tiêu hóa nên B12 sẽ gắn với yếu tô" nội đi theo dịch vị xuống tá tràng. Phức hợp yêu tô nội - vitamin B12 chống lại được tác dụng tiêu hóa của các protease tụy. ở đoạn cuối hồi tràng, phức hợp B12 - yếu tố nội gắn vói các receptor ỏ diềm bàn chải của tê bào ruột rồi vào tê bào bằng quá trình nhập bào (endocytosis) sau đó được hâp thu vào máu. Trong máu, vitamin B12 gắn với protein mang là transcobalamin rồi được vận chuyển đến tuỷ xương, đến gan và thận. 4.4.5. Hấp thu nước và các chất điện giải 4.4.5.1. Hấp thu nước Nước được vận chuyển qua màng ruột theo lực thẩm thấu. Khi nhũ trấp bị pha loãng, nước được hấp thu qua niêm mạc ruột vào các mạch ỏ nhung mao theo cơ chế khuếch tán thẩm thấu. Nước cũng có thể được vận chuyển theo hướng ngược lại. Ví dụ, khi các dịch ưu trương từ dạ dày xuống tá tràng, nưốc sẽ từ huyết tương vào tá tràng và chỉ sau vài phút nhũ trấp trở thành đẳng trương với huyết tương. Khi các chất hoà tan (các ion và các chất dinh dưỡng) được hấp thu từ lòng ruột vào máu, áp suất thẩm thấu của nhũ trấp giảm đi, một lượng nưốc tương đương sẽ khuếch tán qua các “mối nối” giữa hai tế bào biểu mô ở cực đỉnh để vào khoảng kẽ tê bào rồi vào máu, do đó giữ cho nhũ trấp luôn đẳng trương vối huyết tương. 4.4.5.2. Hấp thu ion Na* và cl Mỗi ngày có khoảng 20 đến 30 gam Na+ được bài tiết vào các dịch tiêu hóa. Người ta ản khoảng 5-8 gam Na+ mỗi ngày. Khoảng 0,5% Na+ ở ruột được bài xuất theo phân. Như vậy, mỗi ngày ruột non phải hấp thu 25 đến 35 gam Na+. Trong các trường hợp nôn hoặc ỉa chảy nặng, quá nhiều Na+ của dịch tiêu hóa bị mất ra ngoài, dự trữ Na+ của cơ thể bị giảm nặng có thể gây tử vong trong vài giờ. _ Quá trình hấp thu Na+ diễn ra như sau: ở màng đáy - bên của tế bào biểu mô, bdm Na* - K*. ATPase bdm Na* từ tế bào ra khoang kẽ giữa hai tế bào làm cho nồng độ Na+ ở bên trong tế bào giảm rất thấp (khoảng 50 mEq/L) trong khi nong độ Na4 của nhũ trấp là 142 mEq/L, do đó Na* sẽ khuếch tán theo bậc thang điện hóa từ lòng ruột qua diềm bàn chai vào các tế bào ruột kéo theo glucose, galactose, các acid amin, cr theo cơ chế đồng vận chuyển. Từ tế bào, Na+ lại được bơm ra khoảng kẽ. cr cũng được khuếch tán từ tế bào ra khoảng kẽ theo Na* để trung hoà điện tích. Nồng độ của Na+ và cr trong dịch kẽ tăng lên tạo ra một bậc thang thẩm thấu để kéo nước từ lòng ruột vào khoảng kẽ. Sau đó ca Na , C1 và nước vào máu tuần hoàn của nhung mao. - Sự hấp thu Na+ chịu ảnh hưởng của hormon aldosteron của vỏ thượng thận. Aldosteron vừa làm tăng hấp thu Na+ và nước ở ruột vừa làm tăng tái hâp thu Na+ và nước ở ống thận. 4A.5.3. Hấp thu ion HCO3- lon HC03- được hấp thu ở tá tràng và hỗng tràng một cách gián tiếp: Khi Na+ được vận chuyển vào tế bào, ion H+ được bài tiết vào ruột theo cơ chế trao đổi ion Na+/ H+. Trong ruột, H+ kết hợp với HC03“ thành H2C03, sau đó H2C03 phân ly thành H20 và C02, H20 ở lại lòng ruột như một thành phần của nhũ trấp còn C02 được hấp thu vào máu rồi đào thải qua phổi. 4.4.5.4. Hấp thu các ion khác - Hấp thu ion Ca2+: Ca2+ được hấp thu tích cực ở tá tràng theo nhu cầu của cơ thể: ion Ca2+ được khuếch tán qua các kênh calci nằm ở diềm bàn chải để vào tế bào. Trong tế bào Ca2+ gắn với calbindin. Sự gắn này làm giảm nồng độ ion Ca2+ nội bào và calbiriđin vận chuyển Ca2+ đến màng đáy - bên của tế bào. Tại đây bơm Ca2+-ATPase sẽ bơm Ca2+ vào máu. Parathormon của tuyến cận giáp hoạt hóa 25 - hydroxy cholecalciferol thành 1,25 dihydroxy cholecalciíerol ở thận rồi sẽ theo máu đến ruột làm tăng hấp thu Ca2+ ở ruột. - Ion Fe2+ được hấp thu tích cực theo nhu cầu cơ thể. - Các ion K+, Mg2+ , HP042 và các ion khác được hấp thu qua niêm mạc ruột theo cơ chế tích cực. Nhìn chung, các ion hóa trị 1 được hấp thu dễ dàng vối một sô' lượng lổn. Ngược lại, các ion hóa trị 2 chỉ được hấp thu rất ít. Tuy nhiên, nhu cầu của cơ thể với các ion hóa trị 2 cũng rất thấp.

    x

  • 17

    5. TIÊU HÓA ở RUỘT GIÀ Chức năng chủ yếu của ruột già là hấp thu nước, các chất điện giải và giử phân trong ruột già cho đến khi phân được đẩy ra ngoài. Mỗi ngày có khoảng 1000 đên 2000 ml nhũ trâp đăng trương từ hồi tràng đi vào ruột già. Ruột già hấp thu trên 90% lựợng dịch để tạo ra khoảng ‘200 đến 250 ml chất phán nửa rắn. Một số vitạmin cũng được hấp thu ỏ ruột già, một số vitamin khác được các vi khuân ruột gia tong hợp.

    x

  • 18

    5.1. Hiện tượng cơ học ở ruột già 5.1.1. Các co bóp của ruột già Các co bóp của ruột già gồm co bóp nhào trộn và co bóp đẩy. — Co bóp nhào trộn của ruột già tương tự như co bóp phân đoạn ở ruột non và diên ra như sau: các cơ vòng của một đoạn ruột dài khoảng 2,5 cm co lại đông thòi với sự co của ba dải cơ dọc của đoạn ruột đó. Sự co bóp phối hợp của cả cơ vòng và cơ dọc làm cho các đoạn ruột không co phình ra phía ngoài giông như hình ảnh các túi nhỏ. Trên phim Xquang của ruột già người ta gọi đó là các rãnh ngang ruột già (haustration). Co bóp rãnh ngang đạt cường độ mạnh trong vòng 30 giây rồi mất đi trong 60 giây tiếp theo, sau đó một co bóp rãnh ngang mới lại xuất hiện. Nhờ co bóp này thức ăn được nhào trộn và tiếp xúc vối niêm mạc ruột già để làm tăng hấp thu. - Co bóp đẩy (co bóp khôi). Ở ruột già, các sóng nhu động hiếm khi xảy ra. Tác dụng đẩy thức án ở manh tràng và đại tràng lên là do co bóp rãnh ngang. Co bóp này cần khoảng thòi gian từ 8 đến 15 giờ mới đẩy được nhũ trấp từ manh tràng đến đại tràng ngang. Từ đại tràng ngang đến đại tràng sigma, tác dụng đẩy thức ăn do các co bóp khối đảm nhiệm. Co bóp khối là một hình thức đặc biệt của nhu động diên ra như sau: đầu tiên một vòng co bóp xuất hiện ở một điểm bị căng ra của đại tràng ngang rồi một đoạn ruột dài khoảng 20 cm ở ngay phía dưới sẽ co bóp như một đơn vị ép chất phân bên trong thành một khôi và đẩy nó dọc theo ruột già. Co bóp khôi mạnh lên trong khoảng 30 giây rồi giãn ra trong hai, ba phút tiếp theo, sau đó một co bóp mới xuất hiện. Chuỗi co bóp khối chỉ hoạt động trong khoảng 10 phút đến nửa giờ. Nửa ngày hay một ngày sau chúng lại xuất hiện. Khi co bóp khối đẩy phân vào trực tràng người ta có cảm giác muôn đại tiện. Sau bữa ăn, các co bóp khôi được gia tăng nhờ các phản xạ dạ dày-ruột già hoặc tá tràng - ruột già thông qua dây X. Sự kích thích của ruột già cũng có thể làm xuất hiện các co bóp khôi. Những người bị loét ruột già​lúc​nào​cũng​có co bóp khôi làm họ luôn có cảm giác muốn đại tiện. 5 1.2. Động tác đại tiện Thông thương, ơ trực trang không có phân vì giữa đại tràng sigma và trực tràng có một cơ thắt ở cách hậu môn khoảng 20 cm. Khi các co bop khối đẩy phân vào trực trang, ngươi ta muôn đại tiện do sư co phản xa của triic trang và sự giãn cơ thắt hậu môn. Sự đẩy liên tục của phân qua hậu môn bị cản lại do các cơ thắt hâu môn ỏ trạng thái co trương lực. Có hai cơ thắt hậu môn: cơ thắt trong là cơ trơn va cd thắt ngoài (năm bao quanh cơ thắt trong) là cơ vân. Cơ này do​dây​thần​kinh thẹn chi phối, tức là cơ chịu sự kiếm soát có ý thức. Các phản xạ đại tiện gồm: - Phản xạ nội sinh: Khi phân vào trực tràng, thành trực tràng bị căng ra, các tín hiệu kích thích truyền vào đám rối Auerbach, các sóng nhu động đi đên gần hậu môn ức chế cơ thắt trong làm cơ này giãn ra. Nếu lúc ấy cơ thắt ngoài cũng giãn ra thì sẽ xảy ra động tác đại tiện. Những phản xạ nội sinh thường yếu và phải được tăng cường bằng phản xạ ngoại sinh gọi là phản xạ tốhg phân phó giao cảm. - Phản xạ tông phân phó giao cảm: Khi dầy thần kinh đến trực tràng bị kích thích, các tín hiệu được truyền về tuỷ sống rồi theo các sợi phó giao cảm trong dây thần kinh chậu đến đại tràng xuống, đại tràng sigma, trực tràng và hậu môn. Các tín hiệu phó giao cảm này làm tăng các co bóp của ruột già và làm giãn các cơ thắt hậu môn, kết quả là chuyển phản xạ nội sinh từ một phản xạ yếu, không hiệu quả thành một quá trình tống phân rất mạnh. Những tín hiệu thần kinh truyền vào tuỷ sông còn gây ra các tác dụng khác như hít sâu, đóng thanh môn, co cơ thành bụng để đẩy phân xuống đồng thời đẩy đáy chậu xuống dưối và kéo cơ vòng hậu môn ra ngoài để tống phân ra (động tác rặn).

    x

  • 19

    5.2. Sự bài tiết ở ruột già 5.2. Sự bài tiết ở ruột già 5.2.1. Bài tiết chất nhầy Niêm mac ruột già không có nhung mao nhưng có nhiều hốc Lieberkũhn. Các tế bào biểu mô chủ yếu là các tế bào nhậy bài tiết chất nhầy. Dịch ruột già cũng chứa một số lượn£ lốn bicarbonat, ion này được vận chuyển tích cực từ máu qua các tế bào biểu mô nằm giữa những tế bào nhầy để vào ruột. Chất nhầy được bài tiết khi thức ăn chạm vào các tế bào nhầy hoặc do tế bào nhầy bị kích thích bồi phản xạ ruột tại chỗ hoặc do dây thần kinh chậu (phó giao cảm). Chất nhầy bảo vệ thành ruột khỏi bị trầy xưốc, khỏi tác hại của các vi khuẩn có rất nhiều trong phân và làm cho phân dính lại vổi nhau. Bicarbonat làm cho dịch ruột càng thêm kiềm, tạo ra một hàng rào chông lại các acid được hình thành trong phân. 5.2.2. Bài tiết nước và các chất điện giải Khi một đoạn của ruột già bị kích thích (ví dụ như viêm ruột cấp), niêm mạc ruột già bài tiết một sô" lượng lớn nước và các chất điện giải để pha loãng các yếu tố gây kích thích và đẩy nhanh phân về phía trực tràng. Kết quả là bệnh nhân bị ỉa chảy, mất nước và các chất điện giải. Nhưng ỉa chảy cũng giúp đẩy hết các yếu tố gây kích thích khỏi cơ thể và làm bệnh nhân chóng khỏi bệnh.

    x

  • 20

    5.3. Sự hấp thu ở ruột già Hấp thu xảy ra ỏ nửa đầu của ruột già. Khả nảng hấp thu của niêm mạc ruột già rất lốn. Ion Na+ được hấp thu vào máu theo cơ chê tích cực, kéo theo ion C1 đe trung hoà điện. Dung dịch NaCl (natriclorua) tạo ra lực thẩm thấu để kéo nưóc từ ruột vào máu. Niêm mạc ruột già cũng bài tiết tích cực ion HCCV đồng thời hấp thu một lượng nhỏ ion cr để trao đổi với ion bicarbonat.

    x

  • 21

    5.4. Tác dụng của vi khuẩn ở ruột già Rất nhiều vi khuẩn có mặt ở phồn dổu ruột già. Dưới tác dụng của vi khuân, một số vitamin được tạo rá như vitamin K, vitamin Bn, thiamin, nboAavin. Một số khí cũng flinh hơi trong ruột già. Vitamin K đặc biệt quan trọng vi lượng vitamin K trong thức ăn không đủ để duy trì một quá trình đong máu thích hợp.

    x

  • 22

    5.5. Thành phần của phân Phân gồm 3/4 là nước, 1/4 là chất rắn. 30% chất rắn là chất vô cơ, 2 đến 3% là protein, 30% là chất xơ của thức ăn khồng tiêu hóa được, săc to mật, te bào ruột non bị bong ra. Màu nâu của phân là do stercobilin và urobílin - những dân chất của bilirubin. Mùi của phân là do các chất indol, scatol, merkaptan, hydrogensulfur là các sản phẩm của vi khuẩn.

    x

  • 23

    6. Những rối loạn lâm sàng của ống tiêu hóa

    x

  • 24

    6. NHỮNG RỐI LOẠN LÂM SÀNG CỦA ÔNG TIÊU HÓA 6.1. Loét dạ dày - tá tràng Loét dạ dày - tá tràng là bệnh phổ biến trên toàn thế giới cũng như ở Việt Nam. Loét dạ dày-tá tràng là tổn thương niêm mạc dạ dày - tá tràng do HC1 và pepsin gây ra. Tổn thương loét có thể lan tới lớp cơ niêm hoặc xa hơn, có thê chạm tới các mạch máu gây chảy máu. Loét có thể làm thủng thành ống tiêu hóa, khi đó thức ăn, dịch tiêu hóa và vi khuẩn qua lỗ thủng thoát vào khoang màng bụng gây hậu quả nghiêm trọng. Tác dụng ăn mòn của acid và tác dụng tiêu hóa của pepsin đóng vai trò chính trong sự phát triển của bệnh nhưng sự tạo thành ổ loét không phải hoàn toàn do sự hoạt động quá mức của hai yếu tô' này. Ổ loét sẽ phát triển nếu cơ chế bảo vệ niêm mạc bị rối loạn. Loét tá tràng hay gặp nhất (chiếm 50%). Bệnh nhân bị loét tá tràng thường có sự tăng bài tiết acid, vị trấp thoát xuống tá tràng quá nhanh hoặc nồng độ bicarbonat trong tá tràng quá ít. Loét dạ dày ít gặp hơn và thường do cơ chế bảo vệ niêm mạc bị rối loạn. Ngày nay người ta đã thừa nhận vi khuẩn Helicobacter pylori (HP) đóng vai trò quan trọng trong loét dạ dày-tá tràng. Năm 1983, lần đầu tiên hai nhà nghiên cứu người úc đã tìm thấy HP trong các mẫu sinh thiết niêm mạc dạ dày của bệnh nhân bị viêm dạ dày cấp tính hoặc bị loét dạ dày-tá tràng. HP khư trú trong lốp gel nhầy bao phủ niêm mạc dạ dày, do đó chúng được bảo vệ khỏi acid và pepsin của dịch vị. Tất cả bệnh nhân bị loét tá tràng và khoảng từ 75 đến 85% bệnh nhân loét dạ dày bị nhiêm HP. HP có tác dụng phá vỡ hàng rào bảo vệ niêm mạc và kích thích tế bào viền bài tiết HC1. Trong phác đồ điều tri loét dạ dày - tá tràng, người ta thường dùng kháng sinh để diệt trừ HP kết hợp VỐI cắc thuốc làm giảm bài tiết HC1 như các thuốc ức chế receptor H2 của tê bào viền (cimetidin, ranitidin, famotidin) hoặc thuốc ức chế bơm proton (omeprazol) và các thuốc bảo vệ niêm mạc, băng ổ loét (sucralíat, gel alumin ) Cũng cần lưu ý rằng tình trạng quá căng thẳng về tâm lý do những chấn thương tinh thần và tình cảm cấp, mạn hoặc những rối loạn về nhip điêu và tính chât cua thức ăn (rUỢu, thưôc lá, các chất chua cay, suy dinh dưỡng...) <ỉéu là những yếu tố thúc đẩy bệnh phát triển.

    x

  • 25

    6.2. Táo bón Táo bón là sự vận chuyển chậm chạp của phân qua ruột già thường kèm theo sự ứ đọng một lượng khá lớn phân khô và rắn ở đại tràng ngang vì phân bị giữ lại ỏ ruột già quá lâu nên nưốc được hấp thu gần hết. Nguyên nhân hay gặp của táo bón là do thói quen ức chế những phản xạ đại tiện bình thường. Trẻ sơ sinh hiếm khi bị táo bón nhưng trong những nám đầu của cuộc đời, các cháu thường bị bắt nhịn mỗi khi các cháu muôn đi đại tiện. Kinh nghiệm lâm sàng cho thấy nếu ngưòi ta không được phép đại tiện môi khi phản xạ đại tiện bị kích thích hoặc khi người ta lạm dụng các thuốc nhuận tràng để thay thế cho chức năng tự nhiên của ruột già thì cùng với thời gian các phản xạ sẽ yếu dần đi và ruột già sẽ bị mất trương lực. Do đó, nếu một người tập được thói quen đi đại tiện vào buổi sáng sau bữa điểm tâm là lúc các phản xạ dạ dày - ruột già, tá tràng - ruột già gây ra các co bóp khối ồ ruột già thì sẽ không bị táo bón.

    x

  • 26

    6.3. ỉa chảy ỉa chảy là sự vận động quá nhanh của chất phân trong ruột già do nhiễm khuẩn hoặc nhiễm virus đường tiêu hóa. Quá trình viêm nhiễm thường lan rộng ở ruột già và phần cuối của hồi tràng. Do niêm mạc bị kích thích, các tuyến tăng cường bài tiết, vận động của ruột cũng tăng lên nhiều lần. Ruột bài tiết một lượng dịch rất lớn để cuốn đi các tác nhân gây bệnh và ruột co bóp rất mạnh đẩy dịch về phía hậu môn.

    x

  • 27

    6.4. Nôn Khi đưòng tiêu hóa bị căng quá mức hoặc bị kích thích quá mức, đặc biệt là ở tá tràng thì nôn sẽ xảy ra để tống thức ăn ở phần trên đường tiêu hóa ra ngoài. Xung động theo dây X và dây giao cảm truyền về trung tâm nôn ỏ hành não (nằm gần nhân lưng vận động của dây X). Các xung động vận động truyền qua dây V, dây VII, dây IX, dây X, dây XII đến phần trên của ông tiêu hóa và theo các dây thần kinh tuỷ sống đến cơ hoành và các cơ thành bụng gây ra các tác dụng sau: (1) Hít vào thật sâu, (2) Nâng xương móng và thanh quản để kéo cho cơ thắt thực quản trên mở ra, (3) Đóng thanh môn, (4) Đóng lỗ mũi sau, (5) Co cơ hoành và co các cơ thành bụng làm cho áp suất bên trong dạ dày tăng lên, (6) Cơ thắt thực quản dưới giãn ra hoàn toàn, thức ản trong dạ dày bị đẩy qua thực quản ra ngoài. Như vậy, động tác nôn là do sự ép cua các cơ thành bụng lên dạ dày phổi hợp với sự mở đột ngột của các cơ thắt thực quản để tông thức ăn trong dạ dày ra ngoài. Kích thích gây nôn có thế xuất phát từ ống tiêu hóa nhưng cũng có thể xuất phát từ một vùng nhỏ nằm ỏ hai bên sàn nao thất IV gần vùng postrema gọi là vùng kích thích cảm thụ hóa học (chemoreceptor trigger zone). Kích thích điện vào vùng này sẽ gây nôn hoặc một số thuôc như apomorphin, morphin, các dân chât digitalis cũng có thế kích thích trực tiếp vào vùng này gây nôn. Ngoài ra sự thay đổi hướng chuyển động quá nhanh của cơ thể cũng làm một sô ngưòi bị nôn. Cơ chế như sau: chuyển động sẽ kích thích các receptor của mê cung, xung động truyền qua các nhân tiền đình vào tiểu não rồi đen vùng kích thích cảm thụ hóa học, cuối cùng đến trung tâm nôn và gây nôn. Một số kích thích tâm lý như nhũng bối cảnh gây lo lắng sợ hãi, những mùi kinh tởm, độc hại hoặc các yếu tô tâm lý tương tự cũng có thể gây nôn, cơ chế còn chưa rõ.

    x

  • 28

    7. GAN Gan chia thành nhiều thuỳ. Mỗi thuỳ gan được chia thành nhiều tiểu thuỳ. Bên trong tiểu thuỳ, máu chảy qua các tế bào gan nhờ những xoang tĩnh mạch từ các nhánh của tĩnh mạch đến tĩnh mạch trung tâm tiểu thuỳ. Máu của động mạch gan cũng chảy vào các xoang tĩnh mạch. Các tĩnh mạch trung tâm tiểu thuỳ đổ vào tĩnh mạch gan. Mỗi tế bào gan cũng áp vào một sô kênh mật nhỏ. Các kênh này hợp lại tạo ra ống gan phải và ống gan trái và khi ra khỏi gan thì hai ống lại hợp lại thành ống gan chung. Sau đó ống gan chung cùng với ống túi mật tạo thành ông mật chung đổ vào hành tá tràng qua lô Oddi có cơ thắt Oddi bao quanh. Gan là tuyến lớn nhất của cơ thể, có nhiều chức năng phức tạp. Các chức năng này được mô tả ở nhiều bài khác nhau của sách. Tóm tắt những chức năng chính của gan: - Gan là cơ quan dự trữ: Gan dự trữ glycogen, lipid, các protein, vitamin A, vitamin B12, máu và các chất tham gia vào quá trình tạo hồng cầu (xem Bài 7. Sinh lý máu). - Chức năng tổng hợp: Gan tổng hợp các protein huyết tương, íĩbrinogen, phức hệ protrombin, heparin... - Chức năng bài tiết mật (xem mục 4.3.2.1) - Chức năng tạo và phá huỷ hồng cầu (xem bài 7. Sinh lý Máu, mục 3.4) - Chức nảng chuyển hóa: Gan là trung tâm của các quá trình chuyển hóa glucid (đặc biệt là vai trò của glycogen gan và sự điều hòa đường huyết) chuyển hóa lipid và chuyển hóa protein (sẽ được trình bày trong môn Hóa Sinh). - Chức năng bảo vệ của gan: Gan tham gia bảo vệ cơ thể bằng cách- + Bằng các phản ứng liên hợp nghĩa là gắn một chất có hại hoặc dẫn chất của nó vói một phân tử hoặc một nhóm hóa học khác để tạo thành mot hơp chất bài xuất qua nưóc tiểu. * Liên hợp với sulfat (aulfoconjugaÌ8on): Nhiều hợp chốt phenol kết hợp vời sulĩat và được bài xuất dưới dạng sulíat ester. * Liên hợp với glycin: Nhiểu acid nhân thơm không được chuyển hóa trong cơ thể, phải kết hợp với glycin để được bài xuất. Ví dụ, acid benzoic được gan chuyển thành acid hippuric; acid phenolacetic kết hợp với glutamin... * Liên hợp với acid glucuronic: Thuốc hoặc hormon có nhóm OH (alcohol hoặc phenol) kết hợp với acid glucuronic để tạo thành glucuronid. Ví dụ, pregnanediol được gan chuyển thành pregnanediol glucuronid và bài xuất ra nước tiểu. * Liên hợp với acid acetic: Các acid amin nhân thơm kết hợp với acid acetic để tạo ra các dẫn xuất acetyl tương ứng rồi được bài xuất, ví dụ, sulfanilamid thành acetylsulfanilamid. + Bằng cách phá huỷ hoàn toàn: Nhiều chất lạ đôi với cơ thể bị phá huỷ hoàn toàn ở gan bằng phản ứng oxy hóa, ví dụ các alkaloid, strychnin, nicotin, các barbiturat tác dụng ngắn bị oxy hóa một phần bị khử ở gan.

    x

  • 29

    4.1. Đặc điểm cấu tạo của ruột non Ruột non gồm tá tràng, hỗng tràng và hồi tràng. Ở người trưởng thành, ruột non dài 280 cm, trong đó tá tràng dài 22 cm. Đoạn đầu của tá tràng gọi là hành tá tràng. Hành tá tràng dễ bị loét vì thường xuyên chịu sự tấn công của HC1 từ dạ dày đưa xuống. Dây chằng Treitz là ranh giới giữa tá tràng và hỗng tràng. Sự phân chia hỗng tràng và hồi tràng chỉ là quy ước vì thực tế không có ranh giới giải phẫu giữa hai đoạn này. Niêm mạc ruột non chứa những hạch bạch huyết đơn độc nhưng ở hồi tràng các hạch bạch huyết tập trung thành từng đám gọi là các mảng Payer. Niêm mạc ruột non (hình 11.4) có hai loại tuyến: (1) Tuyến Briinner nằm ở đoạn đầu tá tràng, bài tiết chất nhầy, kiềm, (2) Các hốc Lieberkũhn nằm giữa các nhung mao, có mặt trên toàn bộ niêm mạc ruột non. Các tế bào của hốc Lieberkủhn bài tiết một lượng rất lổn nước, các chất điện giải và một ít chất nhầy. Ruột non có một bề mặt hấp thu rất rộng nhờ những cấu trúc đặc biệt: nếp gấp, nhung mao, vi nhung mao. Niêm mạc ruột non có nhiều nếp gấp goi là nếp gấp Kerckring hoặc van nếp ngang. Các nếp gấp Kerckring làm tang bề mặt hấp thu lên khoảng 3 lần. Phủ lên toàn bộ niêm mạc ruột non từ cơ vòng Oddi đến van hồi manh tràng là hàng triệu nhung mao dài khoảng 1 milimét. Chúng nằm sát nhau và làm tăng bề mặt hấp thu lên khoảng 10 lần. Cuoi cung mỗi te bào biểu IĨ1Ô ruột có một diểm bàn chải với khoảng 1.000 vi nhung mao co đương kính 0,1 micromet và dài 1 micromet. Các vi nhung mao làm bề mặt hâp thu tăng thêm 20 lần nữa. Như vậy, các nếp gấp, nhung mao và vi nhung mao làm bề mặt hấp thu tăng lên 1000 lân, diện tích này vào khoảng 250m2 đến 300m2 Ở giữa mỗi nhung mao có một hệ thông mạch để hấp thu nước, các chất hoà tan vào tĩnh mạch cửa và một ống bạch huyết trung tâm để hấp thu mỡ. Bên trong mỗi vi nhung mao của diềm bàn chải có rất nhiều tơ actin. Tơ actin co từng đợt gây ra sự vận động liên tục của vi nhung mao giúp chúng luôn tiếp xúc với dịch ruột mới.

    x

  • Cơ chi trên

    Cơ chi trên

    An nguyen xuan · 28問 · 1年前

    Cơ chi trên

    Cơ chi trên

    28問 • 1年前
    An nguyen xuan

    1.1 NỘI ôn khó nhớ ** sách, chat gpt

    1.1 NỘI ôn khó nhớ ** sách, chat gpt

    An nguyen xuan · 103問 · 11ヶ月前

    1.1 NỘI ôn khó nhớ ** sách, chat gpt

    1.1 NỘI ôn khó nhớ ** sách, chat gpt

    103問 • 11ヶ月前
    An nguyen xuan

    2 NHI :ôn khó nhớ ** chép ( đánh dấu * vào bệnh có TCCD hoặc phân loại )

    2 NHI :ôn khó nhớ ** chép ( đánh dấu * vào bệnh có TCCD hoặc phân loại )

    An nguyen xuan · 70問 · 11ヶ月前

    2 NHI :ôn khó nhớ ** chép ( đánh dấu * vào bệnh có TCCD hoặc phân loại )

    2 NHI :ôn khó nhớ ** chép ( đánh dấu * vào bệnh có TCCD hoặc phân loại )

    70問 • 11ヶ月前
    An nguyen xuan

    Tiếng anh thân bài

    Tiếng anh thân bài

    An nguyen xuan · 27問 · 1年前

    Tiếng anh thân bài

    Tiếng anh thân bài

    27問 • 1年前
    An nguyen xuan

    từ mới

    từ mới

    An nguyen xuan · 100問 · 1年前

    từ mới

    từ mới

    100問 • 1年前
    An nguyen xuan

    tiếng anh tổng quát

    tiếng anh tổng quát

    An nguyen xuan · 53問 · 1年前

    tiếng anh tổng quát

    tiếng anh tổng quát

    53問 • 1年前
    An nguyen xuan

    2 đại cương về cơ thể sống và hằng tính nội môi

    2 đại cương về cơ thể sống và hằng tính nội môi

    An nguyen xuan · 9問 · 1年前

    2 đại cương về cơ thể sống và hằng tính nội môi

    2 đại cương về cơ thể sống và hằng tính nội môi

    9問 • 1年前
    An nguyen xuan

    3 sinh lý tế bào - trao đổi chất qua tế bào

    3 sinh lý tế bào - trao đổi chất qua tế bào

    An nguyen xuan · 30問 · 1年前

    3 sinh lý tế bào - trao đổi chất qua tế bào

    3 sinh lý tế bào - trao đổi chất qua tế bào

    30問 • 1年前
    An nguyen xuan

    4 sinh lý điện thế màng và điện thế hoạt động 🆗

    4 sinh lý điện thế màng và điện thế hoạt động 🆗

    An nguyen xuan · 15問 · 1年前

    4 sinh lý điện thế màng và điện thế hoạt động 🆗

    4 sinh lý điện thế màng và điện thế hoạt động 🆗

    15問 • 1年前
    An nguyen xuan

    🆗 5 sinh lý chuyển hoá chất và năng lượng

    🆗 5 sinh lý chuyển hoá chất và năng lượng

    An nguyen xuan · 26問 · 1年前

    🆗 5 sinh lý chuyển hoá chất và năng lượng

    🆗 5 sinh lý chuyển hoá chất và năng lượng

    26問 • 1年前
    An nguyen xuan

    6 sinh lý điều nhiệt 🆗

    6 sinh lý điều nhiệt 🆗

    An nguyen xuan · 11問 · 1年前

    6 sinh lý điều nhiệt 🆗

    6 sinh lý điều nhiệt 🆗

    11問 • 1年前
    An nguyen xuan

    phân loại- điều trị Và liều Thuốc

    phân loại- điều trị Và liều Thuốc

    An nguyen xuan · 31問 · 1年前

    phân loại- điều trị Và liều Thuốc

    phân loại- điều trị Và liều Thuốc

    31問 • 1年前
    An nguyen xuan

    số liệu chương 5

    số liệu chương 5

    An nguyen xuan · 6問 · 1年前

    số liệu chương 5

    số liệu chương 5

    6問 • 1年前
    An nguyen xuan

    số liệu tập 2

    số liệu tập 2

    An nguyen xuan · 20問 · 1年前

    số liệu tập 2

    số liệu tập 2

    20問 • 1年前
    An nguyen xuan

    7 Sinh lý máu 🆗

    7 Sinh lý máu 🆗

    An nguyen xuan · 31問 · 1年前

    7 Sinh lý máu 🆗

    7 Sinh lý máu 🆗

    31問 • 1年前
    An nguyen xuan

    8 Sinh lý các dịch cơ thể 🆗

    8 Sinh lý các dịch cơ thể 🆗

    An nguyen xuan · 23問 · 1年前

    8 Sinh lý các dịch cơ thể 🆗

    8 Sinh lý các dịch cơ thể 🆗

    23問 • 1年前
    An nguyen xuan

    thuốc

    thuốc

    An nguyen xuan · 15問 · 1年前

    thuốc

    thuốc

    15問 • 1年前
    An nguyen xuan

    chẩn đoán- phân loại và CLS

    chẩn đoán- phân loại và CLS

    An nguyen xuan · 63問 · 1年前

    chẩn đoán- phân loại và CLS

    chẩn đoán- phân loại và CLS

    63問 • 1年前
    An nguyen xuan

    9 sinh lý tuần hoàn

    9 sinh lý tuần hoàn

    An nguyen xuan · 67問 · 1年前

    9 sinh lý tuần hoàn

    9 sinh lý tuần hoàn

    67問 • 1年前
    An nguyen xuan

    nhóm thuốc chương 4-5-6

    nhóm thuốc chương 4-5-6

    An nguyen xuan · 34問 · 1年前

    nhóm thuốc chương 4-5-6

    nhóm thuốc chương 4-5-6

    34問 • 1年前
    An nguyen xuan

    10 sinh lý hô hấp - thành phần - ĐN 🆗

    10 sinh lý hô hấp - thành phần - ĐN 🆗

    An nguyen xuan · 29問 · 1年前

    10 sinh lý hô hấp - thành phần - ĐN 🆗

    10 sinh lý hô hấp - thành phần - ĐN 🆗

    29問 • 1年前
    An nguyen xuan

    nhom thuốc 7-8-9-10-11-12

    nhom thuốc 7-8-9-10-11-12

    An nguyen xuan · 37問 · 1年前

    nhom thuốc 7-8-9-10-11-12

    nhom thuốc 7-8-9-10-11-12

    37問 • 1年前
    An nguyen xuan

    nhi y6

    nhi y6

    An nguyen xuan · 42問 · 1年前

    nhi y6

    nhi y6

    42問 • 1年前
    An nguyen xuan

    công thức hoá học

    công thức hoá học

    An nguyen xuan · 63問 · 1年前

    công thức hoá học

    công thức hoá học

    63問 • 1年前
    An nguyen xuan

    câu hỏi về nguyên nhân - DỊCH TỄ

    câu hỏi về nguyên nhân - DỊCH TỄ

    An nguyen xuan · 6問 · 1年前

    câu hỏi về nguyên nhân - DỊCH TỄ

    câu hỏi về nguyên nhân - DỊCH TỄ

    6問 • 1年前
    An nguyen xuan

    phương trình hoá học- enzym

    phương trình hoá học- enzym

    An nguyen xuan · 22問 · 1年前

    phương trình hoá học- enzym

    phương trình hoá học- enzym

    22問 • 1年前
    An nguyen xuan

    câu hỏi về triệu chứng

    câu hỏi về triệu chứng

    An nguyen xuan · 5問 · 1年前

    câu hỏi về triệu chứng

    câu hỏi về triệu chứng

    5問 • 1年前
    An nguyen xuan

    số liệu (1) bth ở sản và phụ nữ

    số liệu (1) bth ở sản và phụ nữ

    An nguyen xuan · 45問 · 1年前

    số liệu (1) bth ở sản và phụ nữ

    số liệu (1) bth ở sản và phụ nữ

    45問 • 1年前
    An nguyen xuan

    tóm tắt bài

    tóm tắt bài

    An nguyen xuan · 57問 · 1年前

    tóm tắt bài

    tóm tắt bài

    57問 • 1年前
    An nguyen xuan

    CLS-sính lý giải phẫu

    CLS-sính lý giải phẫu

    An nguyen xuan · 10問 · 1年前

    CLS-sính lý giải phẫu

    CLS-sính lý giải phẫu

    10問 • 1年前
    An nguyen xuan

    cơ chi dưới

    cơ chi dưới

    An nguyen xuan · 5問 · 1年前

    cơ chi dưới

    cơ chi dưới

    5問 • 1年前
    An nguyen xuan

    cấu trúc vùng cánh tay

    cấu trúc vùng cánh tay

    An nguyen xuan · 8問 · 1年前

    cấu trúc vùng cánh tay

    cấu trúc vùng cánh tay

    8問 • 1年前
    An nguyen xuan

    thần kinh

    thần kinh

    An nguyen xuan · 6問 · 1年前

    thần kinh

    thần kinh

    6問 • 1年前
    An nguyen xuan

    0 Nhi : tên bài chương 1

    0 Nhi : tên bài chương 1

    An nguyen xuan · 33問 · 1年前

    0 Nhi : tên bài chương 1

    0 Nhi : tên bài chương 1

    33問 • 1年前
    An nguyen xuan

    0 Nhi tên bài tập 2

    0 Nhi tên bài tập 2

    An nguyen xuan · 36問 · 1年前

    0 Nhi tên bài tập 2

    0 Nhi tên bài tập 2

    36問 • 1年前
    An nguyen xuan

    Xương

    Xương

    An nguyen xuan · 6問 · 1年前

    Xương

    Xương

    6問 • 1年前
    An nguyen xuan

    mạch chi trên

    mạch chi trên

    An nguyen xuan · 6問 · 1年前

    mạch chi trên

    mạch chi trên

    6問 • 1年前
    An nguyen xuan

    test ytb

    test ytb

    An nguyen xuan · 36問 · 1年前

    test ytb

    test ytb

    36問 • 1年前
    An nguyen xuan

    Chất xám

    Chất xám

    An nguyen xuan · 20問 · 1年前

    Chất xám

    Chất xám

    20問 • 1年前
    An nguyen xuan

    12 Sinh lý nước tiểu 🆗

    12 Sinh lý nước tiểu 🆗

    An nguyen xuan · 22問 · 1年前

    12 Sinh lý nước tiểu 🆗

    12 Sinh lý nước tiểu 🆗

    22問 • 1年前
    An nguyen xuan

    13 Sinh lý nội tiết

    13 Sinh lý nội tiết

    An nguyen xuan · 39問 · 1年前

    13 Sinh lý nội tiết

    13 Sinh lý nội tiết

    39問 • 1年前
    An nguyen xuan

    14 Sinh lý sinh dục và sinh sản

    14 Sinh lý sinh dục và sinh sản

    An nguyen xuan · 17問 · 1年前

    14 Sinh lý sinh dục và sinh sản

    14 Sinh lý sinh dục và sinh sản

    17問 • 1年前
    An nguyen xuan

    15 Sinh lý norổn 🆗

    15 Sinh lý norổn 🆗

    An nguyen xuan · 22問 · 1年前

    15 Sinh lý norổn 🆗

    15 Sinh lý norổn 🆗

    22問 • 1年前
    An nguyen xuan

    16 Sinh lý hệ thần kinh cảm giác 🆗

    16 Sinh lý hệ thần kinh cảm giác 🆗

    An nguyen xuan · 42問 · 1年前

    16 Sinh lý hệ thần kinh cảm giác 🆗

    16 Sinh lý hệ thần kinh cảm giác 🆗

    42問 • 1年前
    An nguyen xuan

    17 Sinh lý hệ thần kinh vận động 🆗

    17 Sinh lý hệ thần kinh vận động 🆗

    An nguyen xuan · 21問 · 1年前

    17 Sinh lý hệ thần kinh vận động 🆗

    17 Sinh lý hệ thần kinh vận động 🆗

    21問 • 1年前
    An nguyen xuan

    18 Sinh lý hệ thần kinh tự chủ 🆗

    18 Sinh lý hệ thần kinh tự chủ 🆗

    An nguyen xuan · 10問 · 1年前

    18 Sinh lý hệ thần kinh tự chủ 🆗

    18 Sinh lý hệ thần kinh tự chủ 🆗

    10問 • 1年前
    An nguyen xuan

    19 một số chức năng cấp cao của hệ thần kinh

    19 một số chức năng cấp cao của hệ thần kinh

    An nguyen xuan · 12問 · 1年前

    19 một số chức năng cấp cao của hệ thần kinh

    19 một số chức năng cấp cao của hệ thần kinh

    12問 • 1年前
    An nguyen xuan

    20 sinh lý cơ 🆗 👌

    20 sinh lý cơ 🆗 👌

    An nguyen xuan · 25問 · 1年前

    20 sinh lý cơ 🆗 👌

    20 sinh lý cơ 🆗 👌

    25問 • 1年前
    An nguyen xuan

    chẩn đoán - ploai - CLS

    chẩn đoán - ploai - CLS

    An nguyen xuan · 93問 · 1年前

    chẩn đoán - ploai - CLS

    chẩn đoán - ploai - CLS

    93問 • 1年前
    An nguyen xuan

    tác dụng-nhóm thuốc cho các bệnh

    tác dụng-nhóm thuốc cho các bệnh

    An nguyen xuan · 88問 · 1年前

    tác dụng-nhóm thuốc cho các bệnh

    tác dụng-nhóm thuốc cho các bệnh

    88問 • 1年前
    An nguyen xuan

    * Bài chương 1

    * Bài chương 1

    An nguyen xuan · 51問 · 1年前

    * Bài chương 1

    * Bài chương 1

    51問 • 1年前
    An nguyen xuan

    * Bài chương 2

    * Bài chương 2

    An nguyen xuan · 71問 · 1年前

    * Bài chương 2

    * Bài chương 2

    71問 • 1年前
    An nguyen xuan

    4.1 VRT

    4.1 VRT

    An nguyen xuan · 14問 · 1年前

    4.1 VRT

    4.1 VRT

    14問 • 1年前
    An nguyen xuan

    4.2 Loét dạ dày tá tràng

    4.2 Loét dạ dày tá tràng

    An nguyen xuan · 6問 · 1年前

    4.2 Loét dạ dày tá tràng

    4.2 Loét dạ dày tá tràng

    6問 • 1年前
    An nguyen xuan

    4.3 chấn thương bụng

    4.3 chấn thương bụng

    An nguyen xuan · 6問 · 1年前

    4.3 chấn thương bụng

    4.3 chấn thương bụng

    6問 • 1年前
    An nguyen xuan

    4.4 Vết thương bụng

    4.4 Vết thương bụng

    An nguyen xuan · 5問 · 1年前

    4.4 Vết thương bụng

    4.4 Vết thương bụng

    5問 • 1年前
    An nguyen xuan

    4.5 Viêm tuỵ cấp

    4.5 Viêm tuỵ cấp

    An nguyen xuan · 7問 · 1年前

    4.5 Viêm tuỵ cấp

    4.5 Viêm tuỵ cấp

    7問 • 1年前
    An nguyen xuan

    4.6 Hội chứng tắc ruột

    4.6 Hội chứng tắc ruột

    An nguyen xuan · 10問 · 1年前

    4.6 Hội chứng tắc ruột

    4.6 Hội chứng tắc ruột

    10問 • 1年前
    An nguyen xuan

    4.7 Viêm phúc mạc và ổ áp xe

    4.7 Viêm phúc mạc và ổ áp xe

    An nguyen xuan · 11問 · 1年前

    4.7 Viêm phúc mạc và ổ áp xe

    4.7 Viêm phúc mạc và ổ áp xe

    11問 • 1年前
    An nguyen xuan

    4.10 Hẹp môn vị

    4.10 Hẹp môn vị

    An nguyen xuan · 5問 · 1年前

    4.10 Hẹp môn vị

    4.10 Hẹp môn vị

    5問 • 1年前
    An nguyen xuan

    4.12 Gãy pouteau- colles

    4.12 Gãy pouteau- colles

    An nguyen xuan · 5問 · 1年前

    4.12 Gãy pouteau- colles

    4.12 Gãy pouteau- colles

    5問 • 1年前
    An nguyen xuan

    4.13 gãy thân xương cánh tay

    4.13 gãy thân xương cánh tay

    An nguyen xuan · 5問 · 1年前

    4.13 gãy thân xương cánh tay

    4.13 gãy thân xương cánh tay

    5問 • 1年前
    An nguyen xuan

    4.14 Gãy trên lồi cầu xương cánh tay trẻ em

    4.14 Gãy trên lồi cầu xương cánh tay trẻ em

    An nguyen xuan · 9問 · 1年前

    4.14 Gãy trên lồi cầu xương cánh tay trẻ em

    4.14 Gãy trên lồi cầu xương cánh tay trẻ em

    9問 • 1年前
    An nguyen xuan

    4.15 Gãy 2 xương cẳng tay

    4.15 Gãy 2 xương cẳng tay

    An nguyen xuan · 9問 · 1年前

    4.15 Gãy 2 xương cẳng tay

    4.15 Gãy 2 xương cẳng tay

    9問 • 1年前
    An nguyen xuan

    4.16 Gãy cổ xương đùi

    4.16 Gãy cổ xương đùi

    An nguyen xuan · 6問 · 1年前

    4.16 Gãy cổ xương đùi

    4.16 Gãy cổ xương đùi

    6問 • 1年前
    An nguyen xuan

    4.17 Gãy thân xương đùi

    4.17 Gãy thân xương đùi

    An nguyen xuan · 7問 · 1年前

    4.17 Gãy thân xương đùi

    4.17 Gãy thân xương đùi

    7問 • 1年前
    An nguyen xuan

    4.18 Gãy 2 xương cẳng chân

    4.18 Gãy 2 xương cẳng chân

    An nguyen xuan · 5問 · 1年前

    4.18 Gãy 2 xương cẳng chân

    4.18 Gãy 2 xương cẳng chân

    5問 • 1年前
    An nguyen xuan

    4.19 Trật khớp khuỷu

    4.19 Trật khớp khuỷu

    An nguyen xuan · 5問 · 1年前

    4.19 Trật khớp khuỷu

    4.19 Trật khớp khuỷu

    5問 • 1年前
    An nguyen xuan

    4.20 Trật khớp vai

    4.20 Trật khớp vai

    An nguyen xuan · 7問 · 1年前

    4.20 Trật khớp vai

    4.20 Trật khớp vai

    7問 • 1年前
    An nguyen xuan

    4.21 Trật khớp háng

    4.21 Trật khớp háng

    An nguyen xuan · 7問 · 1年前

    4.21 Trật khớp háng

    4.21 Trật khớp háng

    7問 • 1年前
    An nguyen xuan

    4.22 Trật khớp gối

    4.22 Trật khớp gối

    An nguyen xuan · 5問 · 1年前

    4.22 Trật khớp gối

    4.22 Trật khớp gối

    5問 • 1年前
    An nguyen xuan

    4.23 Sỏi tiết niệu

    4.23 Sỏi tiết niệu

    An nguyen xuan · 7問 · 1年前

    4.23 Sỏi tiết niệu

    4.23 Sỏi tiết niệu

    7問 • 1年前
    An nguyen xuan

    4.24 Chấn thương thận ( CTT)

    4.24 Chấn thương thận ( CTT)

    An nguyen xuan · 10問 · 1年前

    4.24 Chấn thương thận ( CTT)

    4.24 Chấn thương thận ( CTT)

    10問 • 1年前
    An nguyen xuan

    4.25 Chấn thương niệu đạo

    4.25 Chấn thương niệu đạo

    An nguyen xuan · 15問 · 1年前

    4.25 Chấn thương niệu đạo

    4.25 Chấn thương niệu đạo

    15問 • 1年前
    An nguyen xuan

    問題一覧

  • 1

    1. Phân bố mạch máu, thần kinh ở bộ máy tiêu hóa

    x

  • 2

    1.1. Sự phân bô thần kinh trong Ống tiêu hóa Hoạt động của ống tiêu hóa chịu sự điều hoà của hệ thống thần kinh tự chủ (gồm thần kinh phó giao cảm và thần kinh giao cảm) và hệ thần kinh ruột. - Thần kinh phó giao cảm: + Nhân vận động dây X ở hành não cho các sợi theo dây X đi đến đoạn dưới thực quản, dạ dày, ruột non, manh tràng, đại tràng lên, đại tràng ngang. + Đoạn cùng của tuỷ sông (C2-C4) cho các sợi theo dây thần kinh chậu đi đến đại tràng xuống, đại tràng sigma, trực tràng và ống hậu môn. Các sợi thần kinh phó giao cảm tạo synap với các tế bào hạch của hệ thần kinh ruột. Các sợi tiền hạch phó giao cảm bài tiết acetylcholin. - Thần kinh giao cảm: Các sợi thần kinh giao cảm xuất phát từ đoạn tuỷ sống thắt lưng rồi tạo synap với các hạch trưốc cột sông như hạch cổ, hạch mạc treo tràng trên, mạc treo tràng dưới. Các sợi sau hạch giao cảm có thể đến tạo synap với các nơron của hệ thần kinh ruột hoặc trực tiếp đến các mạch máu, các cơ thắt trơn và các hốc Lieberkủhn trong nhung mao ruột. - Ống tiêu hóa cũng có các sợi cảm giác để tiếp nhận các kích thích cơ học, hóa học và nhiệt độ. - Hệ thần kinh ruột gồm các nơron có thân tế bào nằm trong thành của ông tiêu hóa. Hệ thần kinh ruột được tổ chức thành hai loại đám rối thần kinh: đám rối cơ (đám rối Auerbach) khu trú giữa lớp cơ dọc và lớp cơ vòng của thành ống, phân bố thần kinh cho các lớp cơ; đám rối dưới niêm mạc (đám rốì Meissner) nằm giữa lớp cơ vòng và lớp dưới niêm mạc, phân bố thần kinh cho niêm mạc. Hệ thần kinh ruột cũng được gọi là “bộ não nhỏ” của ruột vì nó đươc tổ chức như một hệ thần kinh độc lập gồm các nơron cảm giác, nơron trung gian và nơron vận động theo các con đưòng phản xạ và những chương trình vân đông được thiết lập sẵn. Sô' lượng nơron của hệ thần kinh ruột vào khoảng 100 triêu gần bằng sô nơron của tuỷ sông. -Hoạt đọng cua hệ thàn kinh ruột có thể bị thay đổi (modiíĩcd) bơi hệ thán kinh tự chu, tuy nhiên một sô lượng rât lớn nơron thần kinh ruột không nhận thong tin trực tiêp từ các sợi thần kinh giao cảm hoặc phó giao cảm vì hâu hêt nơron than kinh ruột là nơron trung gian có chức năng tích hợp, do đó các thong tin cảm giác có thể được xử lý trong hệ thần kinh ruột hoàn toan độc lập với hệ thần kinh trung ương. Hệ thân kinh ruột không chỉ kiểm soát sự co hoặc giãn các cơ, kiêm soát lưu lượng máu mà còn điều hoà hoạt động bài tiết của các tê bào biểu mô ông tiêu hóa. Hệ thân kinh ruột cũng có những chương trình vận động được thiêt lập săn cho các vận động nhu động, co bóp theo phân đoạn, nôn và đại tiện.

    x

  • 3

    1.2. Phân bố mạch máu Các mạch máu của ông tiêu hóa là một phần của tuần hoàn lách (gồm tuần hoàn máu của ruột, lách, tụy và gan). - Mau sau khi đi qua ống tiêu hóa, lách và tụy sẽ theo tĩnh mạch cửa về gan. -Ở trong gan, máu đi qua hàng triệu xoang chứa máu nhỏ (sinusoid) rồi theo các tĩnh mạch gan đổ vào tĩnh mạch chủ của tuần hoàn hệ thống. -Khi máu lưu thông qua gan, các tê bào liên võng nội mô nằm trong các xoang chứa máu sẽ lấy đi vi khuẩn và những tác nhân có hại đi từ Ống tiêu hóa vào hệ thông tuần hoàn. -Hầu hết các chất dinh dưỡng được hấp thu ở ruột cũng theo tĩnh mạch cửa đến các xoang máu. Ở đây chúng được các tế bào võng nội mô và tế bào gan giữ lại và xử lý. Các chất dinh dưỡng không hoà tan trong nước được hấp thu vào ông bạch huyết trung tâm rồi theo hệ thống bạch mạch đổ vào tĩnh mạch dưới đòn.

    x

  • 4

    2. Tiêu hóa ở miệng và thực quản

    x

  • 5

    2.1 Các hiện tượng cơ học ở miệng: nhai và nuốt. 2.1.1. Nhai Người ta nhai bằng răng: răng cửa để cắt, răng hàm để nghiền. Các cơ hàm khi cùng làm việc sẽ làm cho hai hàm răng khít lại (cắn răng). Hầu hết các cơ nhai đều do nhánh vận động của dây V chi phối. Trung tâm nhai nằm ỏ thân não. Phản xạ nhai diễn ra như sau: thức ăn ép vào miệng gây ức chế các cơ nhai làm hàm dưói trễ xuống và làm căng các cơ hàm, các cơ hàm co lại, hàm dưới nâng lên làm hai hàm răng khít lại đồng thòi ép viên thức ăn vào miệng, các cơ nhai lại bị ức chế..., cứ như thế động tác nhai được lặp đi lặp lại. Nhai rất quan trọng đối với sự tiêu hóa thức ăn vì các enzym tiêu hóa chỉ tác dung trên bê mặt cua các phần tử thức ăn. Sự nghiền thức ăn thành những phần tử nhỏ rồi trộn lẫn với nước bọt vừa làm tăng diện tích tiếp xúc của thức an với enzym tiêu hóa vừa làm cho thức ăn được vận chuỵển dễ dàng mà không lam ton thương ống tiêu hóa. Riêng đối với rau quả, nhai còn quan trọng ở chỗ nó phá vỡ màng bọc cellulose để những phần dinh dưỡng ở bên trong có thể được tiêu hóa và hấp thu. Những người không có răng thường không thể ăn được thức ăn khô. 2.1.2. Nuốt Nuôt là một động tác nửa tuỳ ý, nửa tự động có cơ chế phức tạp, được chia làm ba giai đoạn: - Giai đoạn nuổt có ý thức: viên thức ăn được đặt trên lưỡi, lưỡi cử động lên trên và ra sau để đẩy thức ăn vào họng. Bắt đầu từ đây, nuôt trơ thành phản xạ tự động. - Giai đoạn họng không có ý thức: viên thức ăn kích thích vùng nhận cam nuôt ở quanh vòm họng, đặc biệt trên các cột hạnh nhân. Xung động truyên vê trung tâm nuốt ở hành não theo các sợi cảm giác của dây tam thoa, dây IX. Từ trung tâm, xung động theo các dây thần kinh V, IX, X và XII đến họng và thực quản gây co các cơ của họng theo trình tự sau: + Họng mềm bị kéo lên trên để đóng lỗ mũi sau, ngăn sự trào ngược thức ăn vào khoang mũi. + Các nếp gấp của vòm họng ồ hai bên được kéo vào giữa tạo thành một rãnh dọc để thức ăn qua đó vào họng sau. Rãnh này không cho những thức ăn hoặc vật có kích thước lớn đi qua. + Các dây thanh âm nằm sát cạnh nhau, thanh quản bị kéo lên trên và ra trưốc bỏi các cơ cổ. Động tác này cùng vói sự có mặt của các dây chằng làm cho nắp thanh quản bị đưa ra sau che kín thanh môn, ngăn không cho thức ăn đi vào khí quản. + Thanh quản bị kéo lên trên cũng làm mở rộng khe thực quản, cơ thắt họng, thực quản giãn ra, đồng thòi toàn bộ cơ thành họng co lại đẩy thức ăn từ họng vào thực quản. Toàn bộ giai đoạn này kéo dài từ 1 đến 2 giây. - Giai đoạn thực quản: chức năng chủ yếu của thực quản là đưa thức ăn từ họng vào dạ dày nhờ các sóng nhu động. Thời gian thức ăn di chuyển trong thực quản khoảng 8 đến 10 giây. Nếu người ta ăn ở tư thế đứng thì thức ăn sẽ được chuyển nhanh hơn (chỉ mất khoảng 5 đên 8 giây) do tác dụng của trọng lực kéo thức ản xuống. Các sóng nhu động của thực quản được kiểm soát bởi dây thần kinh số IX dây X và đám rối thần kinh Auerbach ở thực quản. Khi sóng nhu động của thực quản đến gần dạ dày, cơ thắt dạ dày - thưc quản giãn ra, đồng thời với sự giãn của phần trên dạ dày, sóng nhu đọng ở phm sau viên thức ăn đay nó vào dạ dày. Bình thường cơ that dạ dày - thưc quan ơ trạng thái co trương lực đê ngăn cản sự trào ngược của thức ăn acid từ dạ dày lên thực quản.

    x

  • 6

    2.2. Bài tiết nước bọt. 🆗 2.2.1. Nguồn gốc, thành phần và đặc tính của nước bọt Có ba đôi tuyến nưóc bọt là tuyến mang tai, tuyến dưối hàm và tuyến dưới lưỡi. Ngoài ra trong khoang miệng cũng có rất nhiều tuyến nưốc bọt nhỏ. Các tuyến nước bọt mang tai có kích thước lốn nhất nhưng các tuyến nưốc bọt dưới hàm mới quan trọng vì chúng bài tiết khoảng 70% lưu lượng nước bọt trong ngày. Đơn vị bài tiết cơ bản của tuyến nước bọt được gọi là salivon (hình 11.1). Mỗi salivon gồm nang (acinus) và ông dẫn nưốc bọt. Lòng nang được nối với hệ thống ống dẫn phân nhánh. Các nang nước bọt được cấu tạo từ hai loại tế bào: tế bào thanh dịch và tế bào nhầy. Tế bào thanh dịch bài tiết thanh dịch chứa các chất điện giải và enzym amylase nước bọt. Tế bào nhầy bài tiết chất nhầy. Các tuyến mang tai chỉ bài tiết thanh dịch; các tuyến nước bọt nhỏ trong miệng chỉ bài tiết chất nhầy; các tuyến dưới hàm và dưói lưỡi bài tiết cả thanh dịch và chất nhầy. Nước bọt ra khỏi nang có nồng độ ion Na+, K+ và C1 giống như của huyết tương. Nhưng khi nước bọt chảy qua ống dẫn, các ion Na+ và C1 được tái hấp thu, đồng thòi các ion K+ và HCOg được bài tiết vào lòng ống. Do đó nồng độ ion K+ nước bọt cao gấp 7 lần, nồng độ ion HC03 cao gấp 3 lần trong khi nồng độ ion Na+ và C1 nưốc bọt chỉ băng 1/7 đến 1/10 nồng độ của chúng trong huyết tương. Lưu lượng nưốc bọt hằng ngày vào khoảng từ 800 đến 1500 ml, pH nước bọt từ 6 đến 7,4 đó là pH tốì thuận cho tác dụng tiêu hóa của enzym amylase nước bọt. 🆗 2.2.2. Vai trò của nước bọt. Nước bọt có nhiều tác dụng: - Tác dụng tiêu hóa: Enzym amylase nước bọt có tác dụng phân giải tinh bột chín thành đưòng maltose, maltotriose và oligosaccarid. pH tối thuận của amylase nước bọt là 7. Khi thức ăn vào dạ dày, do một lượng lớn thức ăn không thể được trộn lẫn ngay với acid của dạ dày nên amylase nước bọt vẫn có tác dụng trong dạ dày và enzym này có thể thuỷ phân tới 75% lượng tính bột chín ăn vào. - Nước bọt làm ẩm ướt, bôi trơn miệng và thức ăn tạo điều kiện cho việc nuốt và nếm được thực hiện dễ dàng. - Vệ sinh răng miệng: Trong miệng có rất nhiều loại vi khuân, chúng de dàng huỷ hoại các mô và có thể gây sâu răng. Nước bọt chông lại quá trình huy hoại này vì nước bọt chảy sẽ cuôn đi vi khuẩn gây bệnh cũng như nguôn thưc ản cung cấp cho sự chuyển hóa của chúng. Nước bọt cũng chứa một sô chât giet VI khuân (như ion thyocyanat, lysozym) và chứa kháng thê tiêu diệt VI khuân ơ miệng, kể cả những vi khuẩn gây sâu răng. Nước bọt còn có tác dụng trung hoà acid do vi khuẩn ở miệng giải phóng ra hoặc acid trào ngược từ dạ dày lên miệng. - Nưóc bọt giúp cho sự nói vì nó làm cho môi, lưỡi cử động dễ dàng. 🆗 2.2.3. Điều hoà bài tiết nước bot Tuyên nước bọt là loại tuyến tiêu hóa duy nhất không chịu ảnh hưởng của các hormon tiêu hóa. Chúng chỉ chịu sự điều hoà của thần kinh tự chủ chủ yếu là thần kinh phó giao cảm. Trung tâm kiểm soát sự bài tiết nước bọt là các nhân nước bọt nằm ở giữa cầu não và hành não. Các kích thích gây tăng bài tiết nước bọt là nhai, ngửi hoặc nếm thức ăn (phản xạ không điều kiện). Bài tiết nước bọt cũng tăng lên khi ta nghĩ đến một món ăn nào đó (phản xạ có điều kiện). Bài tiết nước bọt giảm khi ngủ, mệt mỏi, sợ hãi hoặc bị mất nước. Vị chua làm nưỏc bọt tăng bài tiết gấp 8 đến 20 lần bình thường. Sự có mặt của các vật trơn nhẵn trong miệng cũng làm tăng tiết nước bọt. Nước bọt cũng được bài tiết nhiều khi ta nuốt phải những chất kích thích để giúp pha loãng hoặc trung hoà các chất đó trong ống tiêu hóa. Kích thích các sợi thần kinh phó giao cảm (dây VII, dây IX) làm tăng bài tiết nước bọt loãng giầu chất điện giải và amylase nưóc bọt. Nếu cắt các dây phó giao cảm đi đến tuyến nưóc bọt, các tuyến nước bọt sẽ bị teo đi. Nhưng cắt dây thần kinh giao cảm không làm ảnh hưởng đến kích thước của tuyến. Kích thích sợi giao cảm làm tăng bài tiết nước bọt giàu chất nhầy khối lượng nước bọt tăng ít hơn so với kích thích thần kinh pho giao cảm Ngay sau khi kích thích giao cảm, lưu lượng máu giảm nhưng dần dần lưu lương mau se tăng lên do sự ứ đọng của các chất chuyển hóa gây giãn mạch 🆗 2.2.4. Kết quả tiêu hóa ở miệng Nhờ nhai và bài tiết nưốc bọt, thức ăn được cắt, nghiền và trôn lẫn với nước bọt thành viên thức ặn mềm, trơn rồi được lưỡi đưa xuong hong vao thưc quản. Về mặt hóa học, dưới tác dụng của amylase nước bọt, mọt so tinh bot được chuyên thành đường maltose và maltotriose, vì thê khi ăn chất bột nêu ta nhai kỹ sẽ thấy có vị ngọt. Amylase nước bọt tiếp tục thuỷ phân tinh bột ở dạ dày cho đến khi thức ăn ngấm acid dưới tác dụng của dịch VỊ. Ngoài ra cũng nên lưu ý là do nồng độ ion K+ trong nước bọt cao gấp nhiều lần so với trong huyết tương nên trong một sô' tình trạng bệnh lý nước bọt bị mất khỏi cơ thể trong một thời gian dài, người ta bị mất nhiều ion K+ làm cho nồng độ ion K+ huyết tương giảm có thể gây liệt. Chứng khô miệng (xerostomia) là triệu chứng do giảm hoặc không bài tiết nước bọt. Một sô thuôc, đặc biệt là thuốíc chông trầm cảm với tác dụng anticholinergic có thể gây chứng khô miệng. Bệnh nhân bị khô miệng thường nuốt khó, nói khó và bị rối loạn vị giác, dễ bị viêm niêm mạc miệng và sâu răng.

    x

  • 7

    3. Tiêu hóa ở dạ dày Về mặt giải phẫu, dạ dày được chia thành 3 vùng: vùng đáy, vùng thân và vùng hang. Chỗ nôi giữa dạ dày và thực quản là tâm vị, chỗ nối giữa dạ dày và tá tràng là môn vị. về mặt sinh lý, người ta chia dạ dày thành 2 phần: dạ dày phần gần (vùng đáy và 1/3 trên của thân dạ dày) và dạ dày phần xa (2/3 dưới của vùng thân và vùng hang). Dạ dày phần gần đóng vai trò tiếp nhận và chứa đựng thức ản. Dạ dày phần xa có chức năng nghiền, nhào trộn thức ăn với dịch vị và kiểm soát việc đưa vị trấp xuống tá tràng.

    x

  • 8

    3.1. Các hiện tượng cơ học ở dạ dày 🆗 3.1. Các hiện tượng cơ học ở dạ dày 3.1.1. Chức năng chứa đựng Khi thức ăn chạm vào cơ thắt dạ dày - thực quản thì đồng thòi với sự giãn của cơ thắt này, dạ dày phần gần cũng giãn ra. Đó là sự giãn tiếp nhận để thức ăn đi xuống dạ dày. Phản xạ gián tiếp nhận được khởi động khi thức ăn kích thích vào các bộ phận nhận cảm cơ học ở họng, xung động truyền về hành não rồi truyền ra theo dây X đến ức chế các nơron vận động của hệ thần kinh ruột. Ngoài ra, thức ăn làm căng dạ dày cũng gây ra phản xạ dây X (vagovagal reílex) để làm giảm trương lực của thành dạ dày phần gần. Nhờ hai phản xạ này, dạ dày phần gần phình dần ra phía ngoài và chứa được nhiều thức ăn hơn. Khả năng chứa đựng tối đa của dạ dày có thê lên tới 1,5 lít. Lúc này áp suất bên trong dạ dày vẫn thấp. 3.1.2. Các co bóp của dạ dày và vai trò nhào trộn thức ăn - Co bóp hang vị: Khi dạ dày đã chứa đựng thức ăn, các sóng nhu động yếu (cũng gọi là sóng nhào trộn) bắt đầu từ phần giữa chuyển dọc theo thành dạ dày về phía hang vị. Đến hang vị chúng trơ nên mạnh hơn, tạo thành một sô vòng co bóp nhu động rất mạnh. Các 8Óng nồy vừa ấn Bâu vồo thức ỗn vừa đáy thức ăn về phía môn vị. Khi sóng co bóp hang vị đồu tiên đến môn vj, nếu môn vị mở, nó đẩy được khoảng vài mililít vị trấp xuống tá tràng. Sónvc co bóp tiếp theo, sau sóng đầu khoảng 2-3 giây đi đến môn vị thì cơ thát môn vị đã co lại (đóng môn vị), thức ăn bị đẩy trỏ lại phía thAn dạ dày. Quố trình đẩy ngược lại (retropulsion) này có tác dụng trộn thức ăn với dịch vị và nghiền thức An thành những phần tử nhỏ hơn. Kích thích dây X làm tăng cường độ và tần 80 của các co bóp hang vị, trong khi kích thích giao cảm có tác dụng ngược lại. Nếu nhánh của dây X đên hang VỊ bị thoái hóa hoặc bị cắt (vagotomie), lực co bóp của sóng hang vị giám đi và 8ự thoát thức ăn xuống tá tràng bị chậm lại. - Co bóp đói: giữa các bữa ăn, khi dạ dày rỗng được khoảng vài giờ, các co bóp đói sẽ xuất hiện. Đó là những co bóp nhu động theo nhịp trong thần dạ dày, lúc đầu yêu và rời rạc, rồi mạnh dần lên. Khi các co bóp đói trở nên cực mạnh, chúng hoà vào nhau gây ra một co cứng liên tục có thể kéo dài tới 2-3 phút làm ta có cảm giác đau nhói vùng thượng vị. Co bóp đói thưòng mạnh nhât ở những người trẻ, khỏe mạnh, những người có trương lực dạ dày cao. Co bóp đói cũng tăng lên khi đưòng huyết hạ. Có thể coi co bóp đói là một tín hiệu điều hoà quan trọng của ống tiêu hóa để thúc đẩy con người đi tìm thức ăn khi cơ thê băt đâu bị đói. 🆗 3.1.3. Thức ăn thoát khỏi da dày - Sự đóng mở môn vị Thức ăn thoát khỏi dạ dày vào tá tràng phụ thuộc vào cường độ các co bóp hang vị và sự đóng mở môn vị, nghĩa là phụ thuộc vào trương lực của cơ thắt môn vị. - Các co bóp nhu động vùng hang: bình thường các co bóp nhu động hang vị thường yếu có tác dụng chủ yếu là nhào trộn thức ăn vối dịch vị. Khi thức ăn đã ở trong dạ dày được khoảng một giò, các co bóp hang vị trỏ nên mạnh dần để đẩy thức ăn xuống môn vị. Nếu trương lực cơ thắt môn vị giảm (môn vị mở), mỗi sóng co bóp hang vị có thể đẩy được khoảng vài mililít vị trấp vào tá tràng. Co bóp hang vị cũng được gọi là “bơm môn vị” vì nó có tác dụng bơm thức ăn qua môn vị xuống tá tràng. - Vai trò của cơ thắt môn vị: cơ vòng môn vị dày hơn cơ trơn vùng hang gấp rưỡi đến gấp hai lần. Cơ này luôn ở trạng thái co trương lực nhẹ, do đó được gọi là cơ thắt môn vị. Khi trương lực cơ thăt môn vị giam, môn vi thường hé mở đủ để nước và chất bán long đi qua, thức ăn có kích thưốc lớn hoặc ỏ thể rắn sẽ bị ngăn lại. Mức độ co của cỢ môn vị tăng lên, môn vị đóng lại, thức ăn bị giữ lại ở dạ dày. Sự đóng, mơ môn VỊ chiu sự đieu hoà cua cơ chê thần kinh và hormon từ dạ dày và nhất là từ tá tràng. 🆗 314 Điều hoà sự thoát thức ăn khỏi dạ dày Tốc độ đẩy thức ăn khỏi dạ dày được điều hoà bởi các tín hiệu thần kinh và hormon từ dạ dày và từ tá tràng. - Tín hiệu từ dạ dày: Thức ỗn làm căng dạ dày sẽ kích thích dây X và các phan xạ thân kinh ruột tại chỗ. Đồng thời aự căng dạ dày và các phản xạ dáy X cũng kích thích tê bào G của niêm mạc vùng hang bài tiết gastrin. cả hai tín hiệu thân kinh và hormon này đều có tác dụng làm tăng lực bơm môn vị và làm giam trương lực cơ thăt môn vị, môn vị mở ra và một 8ố vị trâp được đẩy xuống tá tràng. - Tín hiệu từ tá tràng: Khi có quá nhiều vị trấp đi xuống tá tràng thì ở tá tràng sẽ có những tín hiệu điều hoà ngược âm tính (cả thần kinh và hormon) để làm giảm lực bơm môn vị và làm đóng môn vị, do đó vị trấp không đi xuống tá tràng nữa. Các tín hiệu đó là: + Các phản xạ ruột - dạ dày: Khi thức ăn vào tá tràng, khối lượng và các thành phần của vị trấp sẽ khởi động các phản xạ thần kinh xuất phát từ thành tá tràng rồi quay trở lại dạ dày để làm chậm hoặc ngừng sự thoát thức ăn xuống tá tràng. + Tín hiệu hormon: Sự có mặt của các acid béo, acid hoặc polypeptid trộn vị trấp ở ruột non (acid béo đóng vai trò quan trọng nhất) kích thích các tế bào nội tiêt trong lớp tế bào biểu mô niêm mạc ruột non bài tiết ra một số hormon như cholecystokinin (CCK), secretin và peptid ức chế dạ dày (gastric inhibitory peptide - GIP). Các hormon này có tác dụng ức chế sự chuyển thức án từ dạ dày xuống tá tràng khi có quá nhiều vị trấp, đặc biệt là acid và acid béo trong vị trấp đi vào tá tràng. Hormon CCK đóng vai trò quan trọng nhất, nó tác dụng như một ức chế cạnh tranh để ngăn cản tác dụng làm tăng lực bơm môn vị của gastrin. Secretin và GIP có tác dụng làm giảm vận động của ống tiêu hóa nhưng yếu. Như vậy, trong cơ chế kiểm soát sự thoát thức ăn từ dạ dày xuống tá tràng, các tín hiệu từ dạ dày chỉ đóng vai trò thứ yếu. Các tín hiệu điều hoà ngược bao gồm cả thần kinh và hormon từ tá tràng giữ vai trò quan trọng hơn nhiều. Cả hai cơ chế điều hoà ngược này phôi hợp vối nhau để ức chế sự thoát thức ăn xuống tá tràng khi: (1) Có quá nhiều vị trấp đi vào tá tràng, (2) Vị trấp quá acid hoặc có nhiều acid béo, chất kích thích, (3) Vị trấp nhược trương hoặc ưu trương. Bằng cách này, tốc độ chuyển thức ăn xuông tá tràng được giới hạn để cho quá trình xử lý thức ăn trong ruột non được hoàn tất.

    x

  • 9

    3.2. Bài tiết dịch vị 🆗 3.2. Bài tiết dịch vị 3.2.1. Nguồn gốc, tính chất và thành phần dịch vị Dạ dày bài tiết khoảng 1 đến 3 lít dịch vị mỗi ngày. Dịch vị là một chất lỏng, không màu, quánh. Dịch vị có nồng độ acid clohydric cao (khoảng 150 mmol/lít, pH~l) va chứa pepsin, lipase, yếu tô' nội, chất nhầy. - Hầu hết dịch vị do các tuyến sinh acid (tuyến oxyntic) nằm ỏ niêm mạc vùng thân và đáy dạ dày bài tiêt (hình 11.2) . Các tuyên này gôm 4 loại tê bào: (1) Tế bào viển bài tiết acid clohydric và yếu tố nội, (2) Tế bào chính bài tiết pepsinogen và lipase dạ dày, (3) Tê bào nội tiêt gôm tê bào ưa crôm bài tiết histamin, tế bào D sản xuất somatostatin, (4) Tế bào cổ bài tiết chất nhầy. Tế bào cổ là tế bào gốc của các loại tế bào khác của tuyến nhờ hoạt động phân bào. - Các tuyến tâm vị khu trú ở niêm mạc tâm vị bài tiết chất nhầy. - Các tuyến môn vị khu trú ở niêm mạc vùng hang và chứa các tê bào sản xuất chất nhầy và pepsin, tế bào G sản xuất gastrin và tê bào D sản xuất somatostatin. - Bề mặt dạ dày được lát bằng một lớp tê bào biểu mô hình trụ bài tiết chất nhầy và dịch kiềm giàu bicarbonat. Hình 11.2. Cấu trúc của niêm mạc vùng thân dạ dày và tuyến sinh acid 3.2.2. Bài tiết acid chlohydric(HCl) HC1 do tế bào viền bài tiết. Khi bị kích thích, tế bào viền bài tiết một dung dịch chứa khoảng 150 mmol HCl/lít, pH«l. ơ pH này nồng độ ion H+ cao gấp hơn một triệu lần nồng độ ion H+ trong máu động mạch. Tế bào viền chứa những kênh nhỏ (hình 11.3). HC1 được tạo ra ở màng nhung mao của kênh. Các kênh này đô vào lòng ống tuyến sinh acid. - Quá trình tạo HC1 (sơ đồ 11.1) diễn ra như sau: (1) Bên trong bào tương, C02 kết hợp với nước dưới tác dụng xúc tác của enzym carbonic anhydrase (CA) để tạo thành H2C03 sau đó H2C03 phân ly thành ion H+ và HCOg~. Ion H+ được bài tiết tích cực vào lòng kênh, đồng thời ion K+ đi vào tế bào. Sự trao đổi tích cực giữa hai ion này xảy ra dưới tác dụng của bơm H+- K+ - ATPase và được gọi là bơm proton. (2) lon C1 được vận chuyển tích cực từ dịch ngoại bào vào bào tương của tế bào viền , sau đó khuếch tán vào lòng kênh. (3) Tại lòng kênh ion H+ và ion C1 kết hợp với nhau để tạo thành HC1. (4) lon HCCV được tạo ra trong tế bào viền sẽ trao đổi với ion cr theo cơ chế đồng vận chuyển ngược chiều để ra dịch ngoại bào và kết hợp vối ion Na+ tạo thành NaHC03~. Như vậy, việc tạo thành HC1 có vai trò của bơm proton và bơm này bị ức chế bởi omeprazol. (5) Nước từ dịch ngoại bào đi qua tế bào vào kênh để cân bằng áp suất thẩm thấu. Kết quả là khi HC1 được bài tiết vào lòng ống tuyến dạ dày thì NaHC03 được đưa thêm vào máu. Vì vậy, sau một bữa ăn no, pH của máu có thể tàng lên. 🆗 - Vai trò của HC1: + Tạo pH cần thiết để hoạt hóa pepsinogen. + Tạo pH tối thuận cho pepsin hoạt động. + Sát khuẩn: tiêu diệt các vi khuẩn có trong thức ăn. Những người bài tiết ít HC1 dễ bị nhiễm khuẩn đường tiêu hóa. + Phá vỡ lớp vỏ bọc sợi cơ thịt. + Thuỷ phân cellulose ở thực vật non. + Tham gia cơ chế đóng mở môn vị và tâm vị. 3.2.3. Sự bài tiết ưà vai trò của nhóm enzym tiêu hóa - Pepsin: Tế bào chính của tuyến sinh acid và tế bào nhầy của tuyến môn vị bài tiết pepsinogen không hoạt động. Ngay khi pepsinogen tiếp xúc với HC1 đặc biệt khi tiếp xúc với một ít pepsin được tạo ra trưóc đó cộng thêm HC1 thì pepsinogen được hoạt hóa thành pepsin. Pepsin hoạt động mạnh nhất ở pH từ 2 đến 3 và bị bất hoạt ở pH > 5. Pepsin là một endopeptidase có tác dụng thuỷ phân protein thành proteose, pepton và polypeptid. Pepsin cũng có khả năng tiêu hóa collagen, thành phần chủ yêu của mô liên kết giừa các tế bào của thịt. Chỉ khi các sợi collagen bị tiêu hóa thì các enzym tiêu hóa khác mới thâm được vào thịt và tiêu hóa protein. Pepsin tiêu hóa khoảng 10 đến 20% protein thức ăn. - Lipase của dịch vị có cùng nguồn gôc với pepsinogen. Mỗi ngày chúng ta ăn khoảng 60 đến lOOg lipid. Lipid gồm triglycerid (chiếm 90%), cholesterol ester, phospholipid và một sô ít các loại vitamin tan trong mỡ. Lipase dịch vị là một enzym yếu và chỉ tác dụng trên những lipid đã nhũ tương hóa như lipid của sữa, trứng. Lipase dịch vị phân giải triglycerid thành acid béo và diglycerid. pH tối thuận của lipase dịch vị nằm trong khoảng từ 4 đến 6. Acid béo được giải phóng ở dạ dày sẽ kích thích niêm mạc tá tràng bài tiết hormon cholecystokinin. Hormon này kích thích tụy bài tiết lipase. 3.2.4. Sự bài tiết và vai trò của yếu tố nôi Yếu tố nội do tế bào viền bài tiết cùng với HC1. Yếu tô' nội rất cần cho sự hấp thu vitamin B12 ở hồi tràng. Trong bệnh viêm dạ dày mạn tính, teo niêm mạc dạ dày, tế bào viền bị phá huỷ, bệnh nhân không chỉ bị vô toan mà còn bị thiếu máu ác tính vì vitamin B12 rất cần cho sự chín của hồng cầu ở tuỷ xương (xem Bài 7. Sinh lý học máu). 3.2.5. Sự bài tiết và vai trò của chất nhầy Chất nhầy do các tế bào tuyến tâm vị, tuyến môn vị và tế bào cổ của tuyến sinh acid bài tiết. Ngoài ra, trên toàn bộ bề mặt của niêm mạc, ở giữa các tuyến, có một lớp tế bào nhầy gọi là tế bào nhầy bề mặt. Các tế bào nhầy bề mặt bài tiết chất nhầy quánh va kiềm, không hoà tan, tạo thành một lớp gel nhầy, dày trên 1 milimét bao phủ niêm mạc dạ dày. Chất nhầy gồm các phân tử glycoprotein giàu glucid, các phân tử phospholipid và acid nucleic. Màng chất nhầy dai và kiềm này bảo vệ niêm mạc dạ day và tá tràng khỏi tác dụng ăn mòn và tiêu hóa của HC1 và pepsin. Bình thường sự bài tiết chất nhầy và bài tiết HC1, pepsin tương đương vói nhau nên dịch vị có thể tiêu hóa thức ăn nhưng lại không thể tiêu hóa được bản thân dạ dằy, tẩ tràng. Khi bài tiết chất nhầy giảm sút, niêm mạc dạ dày dễ bị ăn mòn, gây hội chứng viêm loét dạ dày. Chất nhầy cũng có tác dụng bôi trơn làm cho thức ấn được vận chuyển dễ dàng. Chất nhầy được bài tiết khi có các kích thích cơ học (thức ăn chạm vào niêm mạc) hoặc kích thích hóa học (acetylcholin, prostaglandin...). Ngược lại, cortisol và aspừin ức chê bài tiêt chất nhầy. 3.2.6. Điều hoà bài tiết dịch vị Giữa các bữa ản, dạ dày vẫn bài tiết khoảng vài mililít dịch vị/1 giò. Đó là dịch vị cơ sỏ gồm chủ yếu là chất nhầy, một ít pepsinogen và hầu như không có acid. Khi ăn, dịch vị được điều hoồ theo cơ chế thần kinh Ví\ hormon. - Cơ chê thần kinh. + Dây thần kinh X đóng vai trò kích thích bài tiêt dịch vị thông quu phan xạ dài dây X - dây X (vago vagal reílex): xung itộng từ niôm mạc dạ (lAy theo nhánh cảm giác của dây X đến thân não rồi truyền vổ í,heo nhánh vận độntf cua dây X. phân nhánh vào đám rôì thần kinh Moissner. Từ đây có cốc Hựi cti đỏn các tuyến dạ dày. + Hệ thần kinh ruột (đám rốì Meissner) kích thích bài tiết dịch vị thỏng qua các phản xạ tại chỗ (phản xạ ngăn) tại thành dạ dày. Tất cả các tận cùng thần kinh cholinergic của dây X và hệ thồn kinh ruột đều giải phóng ra chất truyền đạt thần kinh acetylcholin, riêng các sợi thổn kinh đến tế bào G giải phóng ra chất truyền đạt thần kinh GRP (gastrin- releasing peptide). Acetylcholin kích thích tế bào viền bài tiết HC1, tế bào chính bài tiết pepsinogen và tế bào cổ bài tiết chất nhầy. GRP kích thích tế bào G của niêm mạc dạ dày và tá tràng bài tiết gastrin. Những tín hiệu kích thích khởi động các phản xạ dài và phản xạ tại chỗ xuất phát từ não, đặc biệt là hệ viền rồi theo dây X đến dạ dày. - Cơ chế hormon - Vai trò của gastrin và histamin. + Gastrin do các tê bào G vùng hang và tá tràng bài tiết dưối tác dụng kích thích của dây X, của sự căng dạ dày và sự có mặt của polypeptid trong dạ dày. Sau khi được bài tiết, gastrin sẽ theo máu đến các tuyến sinh acid ở đáy và thân dạ dày. Tác dụng chủ yếu của gastrin là kích thích tế bào viền bài tiết HC1. Gastrin cũng kích thích tế bào chính bài tiết pepsinogen nhưng ở mức độ thấp hơn nhiều. Sự bài tiết pepsinogen chủ yếu chịu tác dụng của acetylcholin. + Histamin: Histamin do các tế bào ưa crôm ở phần đáy của tuyến sinh acid bài tiết. Khi có mặt acid trong dạ dày, một lượng nhỏ histamin được bài tiết liên tục trong niêm mạc dạ dày. Histamin gắn với receptor H2 trên tế bào viền và kích thích tế bào này bài tiết HC1. Histamin có tác dụng hiệp đồng vối gastrin và acetylcholin trên tê bào viền: Khi cả 3 chất tác động đồng thời, sự có mặt của histamin vối số lượng rất nhỏ cũng làm tăng bài tiết HC1 của tế bào viền lên rất nhiều. Nếu ức chế tác dụng của histamin bằng thuốc phong toả receptor H2 của histamin (cimetidine) thì cả gastrin và acetylcholin chỉ gây bài tiết một lượng nhỏ HC1. + Một sô' hormon khác cũng ảnh hưởng đến bài tiết dịch vị: (1) Hormon tuỷ thượng thận adrenalin và noradrenalin làm giảm bài tiết dịch vị, (2) Corticoid làm tăng bài tiết HC1 và pepsin nhưng làm giảm bài tiết chất nhầy. Điều trị corticoid kéo dài có thể gây loét hoặc chảy máu dạ dày. - Tác dụng của sự thừa acid lên bài tiết dịch vị. Khi dộ acid của dịch vị tăng cao (pH < 3) cơ chế gastrin sẻ ngừng hoạt động do hai nguyên nhân: (1) Độ acid quá cao làm giảm hoặc ngừng bài tiết gastrìn, (2) Quá nhiều acid trong dạ dày gây phản xạ thần kinh ức chê để giảm bài tiêt dịch vị. Sự ức chế ngược này đóng vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ dạ dày chông lại dộ acid quá cao có thể dẫn tới loét dạ dày và duy trì pH tối thuận cho hoạt động của pepsin. Hai cơ chê thần kinh và hormon bổ sung cho nhau, điêu hoà lẫn nhau để kiểm soát sự bài tiết dịch vị. 3.2.7. Các giai đoan bài tiết dịch vị Sự bài tiết dịch vị đáp ứng với một bữa ăn được chia thành ba giai đoạn: giai đoạn đầu, giai đoạn dạ dày và giai đoạn ruột. Ba giai đoạn này gối lên nhau hoà vào nhau để kích thích bài tiết dịch vị khi thức ăn chưa vào dạ dày, ở trong dạ dày hoặc đã xuống ruột. - Giai đoạn đầu diễn ra trước khi thức ăn vào dạ dày. Khi ta ngửi, nhìn, nếm, thậm chí mói nghĩ đến thức ăn hoặc đang nhai, nuốt thức ăn thì dịch vị đã bài tiết. Ản càng ngon miệng, cưòng độ bài tiết dịch vị càng mạnh. Bài tiết dịch vị ở giai đoạn này theo cơ chế phản xạ không điều kiện và phản xạ có điêu kiện. Cả hai đều có đường truyền ra là dây X. Các trạng thái tâm lý cũng ảnh hưởng rõ rệt đến bài tiết dịch vị: giận dữ, hằn học làm tăng bài tiết; sợ hãi, lo âu làm giảm bài tiết. Dịch vị giai đoạn đầu chiếm khoảng 20% dịch vị toàn bữa ăn. - Giai đoạn dạ dày: Khi thức ăn vào dạ dày, được nhào trộn và tiêu hóa trong dạ dày thì các tín hiệu kích thích từ dạ dày sẽ khỏi động các phản xạ dây X, phản xạ tại chỗ và các cơ chế giải phóng gastrin, histamin. cả hai cơ chế thần kinh và hormon phối hợp vối nhau làm cho dịch vị được bài tiết liên tục trong suốt thời gian thức ăn lưu giữ ở dạ dày. Lượng dịch vị bài tiết trong giai đoạn này chiếm khoảng 70% dịch vị toàn bữa ăn. - Giai đoạn ruột: Thức ăn vào ruột non làm căng tá tràng, đồng thòi HC1 và các sản phẩm tiêu hóa protein trong vị trấp sẽ kích thích niêm mạc tá tràng giải phóng một lượng nhỏ gastrin. Gastrin theo máu đến kích thích các tuyến sinh acid của dạ dày bài tiết dịch vị. Dịch vị bài tiết trong giai đoạn ruột chỉ chiếm khoảng 10% dịch vị toàn bữa ăn. - Sự ức chế bài tiết dịch vị của ruột: Trong một sô điều kiện, các yếu tố ức chế bài tiết dịch vị của ruột có thể mạnh hơn các yếu tố kích thích. Ví dụ, khi vị trấp được đưa xuống tá tràng quá nhiều thì sự căng quá mức của ruột non cùng vối các thành phần có trong vị trấp sẽ khởi động các phản xạ ruột - dạ dày để ức chế bài tiết dịch vị. Các tín hiệu trên cững kích thích niêm mạc tá tràng và hỗng tràng bài tiết các hormon cholecystokinin, aecretin, GIP có tác dụng ức chế bài tiết dịch vị, đặc biệt cholecystokinin còn có tác dụng ngăn cản sự thoát vị trấp từ dạ dày xuống tá tràng.

    x

  • 10

    3.3. Kết quả tiêu hóa ở dạ dày. Nhờ các hoạt động cơ học, bài tiết và tiêu hóa ở dạ dày, thức ân được nghiền và trộn lẫn với dịch vị thành một chất bán lỏng gọi là vị trấp, trong đó một phần protein được tieu hóa thành proteose, pepton và polypeptid, một phần tinh bột chính thành đường maltose, maltotriose và oligosaccand. Md hâu như chưa được phân giải. 3.4. Hâp thu ở dạ dày Khả năng hấp thu của dạ dày không đáng kể vì bề mặt niêm mạc hẹp lại không có nhung mao. Một sô' chất có độ hoà tan trong mõ cao như rượu hoặc một số thuốc như aspirin có thể được hấp thu ở dạ dày với sô lượng ít.

    x

  • 11

    3.4. Hấp thu ở dạ dày

    x

  • 12

    4. Tiêu hóa ở ruột non

    x

  • 13

    4.1. Đặc điểm cấu tạo của ruột non Ruột non gồm tá tràng, hỗng tràng và hồi tràng. Ở người trưởng thành, ruột non dài 280 cm, trong đó tá tràng dài 22 cm. Đoạn đầu của tá tràng gọi là hành tá tràng. Hành tá tràng dễ bị loét vì thường xuyên chịu sự tấn công của HC1 từ dạ dày đưa xuống. Dây chằng Treitz là ranh giới giữa tá tràng và hỗng tràng. Sự phân chia hỗng tràng và hồi tràng chỉ là quy ước vì thực tế không có ranh giới giải phẫu giữa hai đoạn này. Niêm mạc ruột non chứa những hạch bạch huyết đơn độc nhưng ở hồi tràng các hạch bạch huyết tập trung thành từng đám gọi là các mảng Payer. Niêm mạc ruột non (hình 11.4) có hai loại tuyến: (1) Tuyến Briinner nằm ở đoạn đầu tá tràng, bài tiết chất nhầy, kiềm, (2) Các hốc Lieberkũhn nằm giữa các nhung mao, có mặt trên toàn bộ niêm mạc ruột non. Các tế bào của hốc Lieberkủhn bài tiết một lượng rất lổn nước, các chất điện giải và một ít chất nhầy. Ruột non có một bề mặt hấp thu rất rộng nhờ những cấu trúc đặc biệt: nếp gấp, nhung mao, vi nhung mao. Niêm mạc ruột non có nhiều nếp gấp goi là nếp gấp Kerckring hoặc van nếp ngang. Các nếp gấp Kerckring làm tang bề mặt hấp thu lên khoảng 3 lần. Phủ lên toàn bộ niêm mạc ruột non từ cơ vòng Oddi đến van hồi manh tràng là hàng triệu nhung mao dài khoảng 1 milimét. Chúng nằm sát nhau và làm tăng bề mặt hấp thu lên khoảng 10 lần. Cuoi cung mỗi te bào biểu IĨ1Ô ruột có một diểm bàn chải với khoảng 1.000 vi nhung mao co đương kính 0,1 micromet và dài 1 micromet. Các vi nhung mao làm bề mặt hâp thu tăng thêm 20 lần nữa. Như vậy, các nếp gấp, nhung mao và vi nhung mao làm bề mặt hấp thu tăng lên 1000 lân, diện tích này vào khoảng 250m2 đến 300m2 Ở giữa mỗi nhung mao có một hệ thông mạch để hấp thu nước, các chất hoà tan vào tĩnh mạch cửa và một ống bạch huyết trung tâm để hấp thu mỡ. Bên trong mỗi vi nhung mao của diềm bàn chải có rất nhiều tơ actin. Tơ actin co từng đợt gây ra sự vận động liên tục của vi nhung mao giúp chúng luôn tiếp xúc với dịch ruột mới.

    x

  • 14

    4.2. Hiện tượng cơ học Vận động ở ruột non được chia làm hai loại chính: co bóp phân đoạn (co bóp nhào trộn) và co bóp nhu động (co bóp đây). Trong một phạm vi rộng, sự phân chia này là giả tạo vì mọi vận động ở ruột non đều có cả hai tác dụng nhào trộn và đẩy với những mức độ khác nhau. Ngoài ra trong dạ dày và ruột non còn có một loại vận động đặc biệt gọi là phức hợp vận động di chuyển (migrating motor complex). Khi thức ăn vào ruột non (lúc này được gọi là nhũ trấp) sự căng thành ruột sẽ kích thích gây ra các co bóp đồng tâm ở những khoảng nhất định dọc theo ruôt non. Chiểu dài của mỗi đoạn co bóp vào khoảng 1 cm. Một nhóm co bóp như vậy sẽ chia ruột non thành từng đoạn giông hình ảnh một chiếc xúc xích (hình 11.5). Khi một nhóm co bóp phân đoạn giãn ra, một nhóm co bóp khác bắt đầu tại những điểm mới, ở giữa các co bóp trước. Như vậy, những đoạn ruột trước co thì nay giãn ra và những đoạn trước đang giãn thì nay co lại. 4.2.1. Co bóp phân đoạn Ruột đang giãn Hình 11.5. Co bóp phân đoạn của ruột non Co bóp phân đoạn có tác dụng trộn thức ăn vối các dịch tiêu hóa và luôn luôn đưa thức ăn mới đến tiếp xúc vối các tê bào hấp thu và những enzym trên bề mặt của chúng. 4.2.2. Co bóp nhu động Co bóp nhu động đẩy nhũ trấp dọc theo ruột về phía ruột già với tôc độ 0,5 đến 2 cm/giây. Tốc độ này nhanh hơn ổ tá tràng và phần trên hỗng tràng, sau đó chậm dần. Hầu hết co bóp nhu động là những sóng yếu, thường tắt sau khi dịch chuyển được khoảng 3 đến 5 cm . Vì vậy, phải mất 3 đến 5 giò, các co bóp nhu động mối đẩy được nhũ trấp từ tá tràng tới van hồi - manh tràng. 4.2.3. Phức hợp vận động di chuyển Giữa các bữa ăn, khi cơ thể bị đói, cứ cách một khoảng thời gian độ 90 phút lại có những sóng nhu động mạnh đi từ dạ dày dọc theo ruột đen van hồi manh tràng. Đó là những phức hợp vận động di chuyển. Trong khi sóng nhu động thông thường chỉ di chuyển được vài centimet rồi tắt thì các phức hợp vận động di chuyển đi dọc theo toàn bộ chiều dài của ruột từ dạ dày đến đoạn cuối ruột non. Các phức hợp vận động di chuyển “quét” sạch những mẩu thức ăn chất nhầy, các dịch tiêu hóa dư thừa và các tế bào ruột non bị bong rơi vào lòng ruột, do đó giữ cho dạ dày và ruột non được sạch sẽ giữa các bữa ăn. Nếu không có những phức hợp vận động di chuyển này trong ruột vì lý do bệnh lý thì vi khuẩn sẽ phát triển quá mức trong ông tiêu hóa gây ra rôì loạn hấp thu. Hoạt động của hệ thần kinh ruột sinh ra các phức hợp vận động di chuyển. Các phức hợp này bị ức chế trong lúc ăn một phần do hoạt động cua dây X tăng lên, một phần do tác dụng của các hormon gastrin và cholecystokinin. Ngược lại, hormon motilin làm tăng các phức hợp vận động di chuyển. 4.2.4. Điểu hoà vận động ruột non Nhìn chung vận động của ruột non được điều hoà theo cơ chế thần kinh và hormon, tuy nhiên tác dụng sinh lý của các hormon gastrin và cholecystokinin trên vận động ruột non vẫn còn đang được bàn cãi. Kích thích thần kinh phó giao cảm làm tăng vận động ruột trong khi kích thích giao cảm có tác dụng ngược lại. Sự có mặt của những chất độc hại trong lòng ruột có thê gây ra các sóng phản nhu động (nhu động ngược chiều) gây nôn, hoặc những co bóp đây rất mạnh xuống phía hậu môn gây ỉa chảy. Các trạng thái cảm xúc cũng có thể ảnh hưởng đến vận động ruột. Trong chứng tăc ruột do liệt ruột (paralytic ileus), tắc ruột không phải do nguyên nhân cơ học mà là do ruột không co bóp. Bệnh nhân bị chướng bụng, buồn nôn và nôn. Nguyên nhân do hoạt động cua hẹ thần kinh ruột bị ức chế hoàn toàn và hoạt động của nơron ức chế tăng lên. Việc sờ nắn vào các quai ruột trong phẫu thuật ổ bụng có thể gây ra đáp ứng phản xạ theo các dây hướng tâm truyền về thân não rồi theo các sợi giao cảm đen ruột đe ức chế vận động ruột. 4.2.5. Vận động của nhung mao Một sô sợi cơ trơn của lớp cơ dưới niêm mạc đi vào các nhung mao làm chúng co bóp theo nhịp: ngắn lại, dài ra rồi ngắn lại. Vận động của nhung mao giúp dịch bạch huyết chảy từ ông bạch huyết trung tâm vào hệ bạch mạch, vận động của nhung mao cũng có tác dụng “khuấy” vào nhũ trấp xung quanh nhung mao, do đó thường xuyên đưa nhũ trấp mới đến tiếp xúc với nhung mao để được hấp thu. Khi nhũ trấp vào ruột non, vận động của nhung mao được khởi động thông qua các phản xạ tại chỗ trong đám rối Meissner. 4.2.6. Vai trò của cơ thắt hồi manh tràng Cơ thắt hồi manh tràng kiểm soát sự thoát nhũ trấp từ hồi tràng vào manh tràng và tác dụng như một cái van ngăn cản sự trào ngược của thức ăn trở lại hồi tràng. Bình thường, cơ thắt hồi manh tràng co nhẹ. Các kích thích cơ học, hóa học hoặc áp suất ở hồi tràng làm giãn cơ thắt hồi manh tràng và thức ăn thoát khỏi hồi tràng. Ngược lại, những kích thích từ phía manh tràng làm cho cơ thắt hồi manh tràng co mạnh hơn nữa và ngăn cản sự trào ngược thức ăn. Như vậy, thức ăn từ hồi tràng được đưa từng đợt vào manh tràng.

    x

  • 15

    4.3. Bài tiết dịch và tiêu hóa ở ruột non 🆗 4.3.1. Dịch tụy Tuyến tụy là một tuyến pha có cấu trúc bên trong giống cấu trúc của tuyến nước bọt. Phần tụy nội tiết (các tiểu đảo Langerhans) chỉ chiếm 1% khổi lương của tuyến, bài tiết insulin và glucagon. Các nang tụy bài tiết các enzym tiêu hóa trong khi các ống tuyến tụy bài tiet một lượng rất lớn dung dịch bicarbonat kiềm. Dịch tụy chảy vào ống Wirsung, ông này hợp với ông mật chủ ơ bong Valter rồi đổ vào ta tràng qua cơ thắt Oddi. 4.3.1.1. Thành phần và tác dụng dịch tụy - Các enzym Mỗi ngày tụy ngoại bài tiết khoảng 1000 ml dịch. Dịch tụy là một dịch kiềm chứa nhiêumuoi bicarbonat và tất cả các loại enzym cần cho sự tiêu hóa các chất dinh dưdng, bao gồm: (1) Nhóm enzym tiêu hóa protein (trypsin, chymotrypsin, elastasẻ, carboxypeptidase), (2) Enzym tiêu hóa glucid (amylase), (3) Enzym tiêu hóa lipid ỏipase, phosphoỉipase A2 cholesterol esterase), (4) Enzym tiêu hóa acid nucleic (ribonuclease, desoxyribonuclease). Hầu hết các enzym của dịch tụy (trừ amylase và lipase) đựợc bài tiet dươi dạng tiền enzym không hoạt động va được bọc trong các hạt zymogen Các hạt zymogen sẽ chuyển thành ẽnzym hoạt động ngay khi chúng tiếp XÚC VỚI enzym enterokinase khu trú ở diềm bàn chải của tế bào ruột. Enterokinase chuỵen trypsinogen thành trypsin, rồi trypsin sẽ hoạt hóa các zymogen, cụ the la chuyển chymotrypsinogen thành chymotrypsin, chuyên procarboxypẹptidase thành carboxypeptidase và proelastase thành elastase. Như vậy, trypsin đong vai trò trung tâm kiểm soát hoạt động của các enzym khác. Dưới đây là bảng tóm tắt tác dụng của các enzym tiêu hóa của dịch tụy. Các enzym tiêu hóa lipid là những hợp chất hoà tan trong nước. Chúng chỉ có thể tấn công các hạt mõ trên bề mặt của chúng. Vì vậy, bước đầu tien cua tiêu hóa mỡ là mỡ phải đươc nhũ tương hóa: Muối mạt và lecỉthin lam giam sức căng bề mặt của các hạt cầu mỡ và chỉ khi sức căng bề mặt giảm thì cac co bop của dạ dày và ruột mổi làm vỡ được những hạt cầu mỡ thảnh nhiều hạt co kích thước rất nhỏ. Khi đường kính của hạt cầu mõ giảm đi một nửa thì be mạt cua nó tăng lên gấp đôi. Quá trình nhũ tương hóa mỡ làm chỏ bề mặt tiep xuc cua mỡ vối enzym tảng lên khoảng một ngàn lần. Tụi sao tụy không bị tiêu hóa bỏi các enzym tiêu hỏa của tụy? Tụy có các cơ chê tự bảo vệ như sau: (l) Các enzym được tổng hợp và bài tiết dưoi dạng zymogen không hoạt động và 8ự hoạt hóa của chúng bình thường chỉ xảy ra ở ruột non, (2) Các enzym tiêu hóa được chứa trong các túi (các hạt zymogen) của cốc tệ bào nang, (3) Các tê bào nnng cũng tổng hợp và bài tiết chất ức chế trypsịn. Chất này chông lại sự hoạt hóa sớm của trypsinogen, Chất ức chế trypsin được gói cùng với trypsinogen trong các hạt zymogen. Vì trypsin hoạt hóa các enzym tiêu protein khác của tụy và cả phospholipase Ag nên chât ớc chê trypsin củng ngăn cản sự hoạt hóa của các enzym này. - Sự bài tiết dung dịch bicarbonat kiểm: Các tế bào biểu mô của ống tuyến tụy bài tiết một sô lượng rất lớn dung dịch bicarbonat theo các bước như sau: (1) C02 khuếch tán từ máu vào tế bào biểu mô. Trong tế bào C02 kết hợp với nước dưới tác dụng của enzym carbonic anhydrase để tạo thành H2COrr H2C03 phân ly thành H+và HC03“, sau đó ion HC03“ được vận chuyển tích cực vào lòng Ống. (2) lon H+ từ tê bào vào máu để trao đổi với ion Na+ từ máu vào tế bào theo cơ chế vận chuyển tích cực thứ phát. Sau đó ion Na+ khuếch tán từ tế bào vào lòng Ống. (3) Nước từ máu đi qua tế bào vào lòng ống để cân bằng áp suất thẩm thấu. Kêt quả là dung dịch bicarbonat được tạo ra ở tụy, có pH=8. Thành phần bicarbonat của dịch tụy đóng vai trò quan trọng trong việc trung hoà acid của dịch vị ở tá tràng và tạo ra pH tối thuận cho hoạt động của các enzym tiêu hóa (pH trung tính hoặc hơi kiềm). 4.3.1.2. Điều hoà bài tiết dịch tụy Dịch tụy được bài tiết theo cổ chê thần kinh và hormon. Khi ăn, sự bài tiết của dịch tụy có thể được chia thành ba giai đoạn: giai đoạn đầu, giai đoạn dạ dày và giai đoạn ruột. - Trong giai đoạn đầu: sự nhìn, ngửi, nếm, nghĩ đến thức ăn hoặc nhai và nuốt kích thích bài tiết dịch tụy thông qua các sợi cholinergic của dây X đi đến các tế bào nang tụy. Dịch tụy của giai đoạn này chứa nhiều enzym và chiem khoảng 20% dịch tụy toàn bữa ăn. - Giai đoạn dạ dày: Sự căng của dạ dày khỏi động phản xạ dài dây X - dây X. Acetylcholin được giải phóng đi đến kích thích cả tế bào nang và tế bào ông tuyến tụy nhưng lượng enzym được bài tiết nhiều hơn dung dịch bicarbonat. Dịch tụy ở giai đoạn dạ dày thường ít, chỉ chiếm 5 đến 10%. - Giai đoạn ruột: Dịch tụy được bài tiết trong giai đoạn này rất nhiều, chiêm khoảng 70 đến 80%. Có 3 cơ chế tham gia: (1) Nồng độ ion H+ trong tá tràng kích thích tế bào s giải phóng hormon secretin. Secretin kích thích tế bào ống bài tiêt dung dịch bicarbonat, (2) Các acid béo, acid amin, peptid kích thích tê bào I của tá tràng và hỗng tràng giải phóng hormon cholecystokinin. Cholecystokinin kích thích cả tế bào nang bài tiết enzym và tê bào ông bài tiết dung dịch bicarbonat, (3) lon H+, acid béo, peptid trong lòng ruột cũng kích thích bài tiết dịch tụy, đặc biệt là các enzym thông qua phản xạ dây X - dây X. 4.3.2. Dịch mật 4.3.2.1. Sự bài tiết dịch mật ở gan Gan bài tiết mật qua hai giai đoạn: (1) Đầu tiên các tế bào gan sản xuất ra mật, gọi là “mật đầu” chứa một lượng lớn acid mật, cholesterol và các thành phần hữu cơ khác. Mật được bài tiết vào các tiểu quản mật nằm giữa các tế bào gan trong các bè gan, (2) Đến vách liên thuỳ, các tiểu quằn mật đổ vào các ống tận, rồi vào những ông mật có kích thước ngày càng lớn hơn, cuối cùng đến ống gan và ông mật chủ. Từ ông mật chủ, mật chảy trực tiếp vào tá tràng hoặc qua ống túi mật đổ vào tích trữ trong túi mật. Trong quá trình chảy qua những ong mật này, mật đâu được bô sung thêm dung dịch bicarbonat làm cho khối lương toàn phần của mật tăng gấp đôi. Như vậy bicarbonat của dịch mật sẽ cùng VỚI dịch tụy trung hoà acid của dịch vị ở tá tràng. Bài tiết mật tăng khi nồng độ muôi mật trong tĩnh mạch cửa tăng. Uống một lượng lớn muôi mật có thể làm cho lượng mật bài tiết tăng lên vài trăm mililít mỗi ngày. Kích thích phó giao cảm làm tăng bài tiết mật trong bữa ăn. Secretin kích thích các tế bào ông mật sản xuất dung dịch bicarbonat. 4.3'2.2. Dự trữ mật trong túi mật Mật được tế bào gan bài tiết liên tục và được chứa trong túi mật cho đến khi tá tràng cần đến. Thể tích tối đa của túi mật vào khoảng 20 đến 60 ml, tuy nhiên lượng mật được bài tiết trong 12 giò là 450 ml vẫn có thể được dự trữ trong túi mật là vì nước, Na*, cr và các chất điện giải khác được niêm mạc túi mật hấp thu liên tục. Vì vậy, các thành phần khác của mật như muổì mật, cholesterol, lecithin, bilirubin được cô đặc trong túi mật. Trong quá trình hấp thu nưốc và các chất điện giải, Na+ được vận chuyển tích cực qua tế bào biểu mô túi mật, kéo theo sự hấp thu thứ phát của cr, nưóc và các thành phần khác. Bình thường mật được cô đặc khoảng 5 lần. Khả năng cô đặc tối đa có thể tới 12 đến 20 lần. 4.3.2.3. Thành phần của mật Thành phần của mật ỏ gan và ở trong túi mật khác nhau. Thành phần chủ yếu của mật là muôi mật, chiếm khoảng 50% các chất hoà tan của mật. Ngoài ra, trong mật còn có bilirubin, cholesterol, lecithin và các chất điện giải. Trong quá trình cô đặc ỏ túi mật, nưốc và các chất điện giải (trừ ion Ca2+) được tái hấp thu qua niêm mạc túi mật. Muôi mật, cholesterol, lecithin được cô đặc ỏ túi mật. 4.3.2.4. Sự bài xuất mật Mật được bài xuất từ túi mật vào tá tràng nhò sự co bóp của túi mật và sự giãn của cơ vòng Oddi. Bài xuất mật được điều hoà theo cơ chế thần kinh và hormon. - Cơ chế thần kinh: Acetylcholin do các sợi cholinergic của dây X và của hệ thần kinh ruột làm tăng co bóp túi mật nhưng tác dụng này tương đối yếu. - Cơ chê hormon: sự có mặt của mõ trong thức ân ở tố tràng sẽ kích thích niêm mạc tá tràng và phần trôn hỗng tràng bài tiết cholecystokinin. Cholecystokinin làm túi mật co bóp theo nhịp đồng thời làm giãn cơ vòng Oddi và mật được bài xuất vào tá tràng. Ngoài ra, cơ Oddi cũng giãn ra dưới tác dụng cua nhu động ruột. Khi sóng nhu động đi qua tá tràng, pha giãn của sóng làm giãn cơ trơn thành ruột và cũng làm giãn cơ vòng Oddi, mật được giải phóng vào tá tràng như những tia đồng bộ với các sóng nhu động của tá tràng. Cholecystokinin là hormon chủ yếu gây bài xuất mật. Khi không có mỡ trong thức ăn, sự bài xuất mật rất yếu. Ngược lại, khi có một lượng mỡ thích hợp, sự bài xuất mật được hoàn tất trong vòng một giờ. 4.3.2.5. Tác dụng của muối mật Các tế bào gan sản xuất ra khoảng 0,5 gam muôi mật mỗi ngày từ cholesterol do thức ăn cung cấp hoặc được tổng hợp trong các tê bào gan. Cholesterol được chuyển thành acid cholic hoặc acid chonodesoxycholic với lượng băng nhau. Các acid này gắn với glycin và taurin để tạo ra acid glycocholic và acid taurocholic. Muôi của các acid này được bài tiêt vào mật. Muôi mật đóng vai trò quan trọng trong tiêu hóa và hấp thu mỡ. - Muôi mật giúp cho quá trình nhũ tương hóa mỡ làm tăng diện tích tiêp xúc của các hạt cầu mỡ vói các enzym tiêu hóa mỡ. - Muôi mật giúp cho sự tiêu hóa và hấp thu của các acid béo, monoglycerid, cholesterol và các iipid khác ở ruột non nhờ các mixen muối mật. Sự thuỷ phân triglycerid thành monoglycerid và acid béo là một quá trình thuận nghịch, nếu monoglycerid và acid béo không được lấy đi chúng sẽ ngăn cản sự tiêu hóa tiếp tục của mỡ. Mixen muốỉ mật là những hạt cầu nhỏ, đưòng kính từ 2 đến 6 nanomet, được cấu tạo từ 20 đến 40 phân tử muối mật (hình 11.6). Mỗi phân tử muôi mật gồm một nhân sterol hoà tan trong mỡ và một nhóm cực hoà tan trong nước. Các nhân sterol cùng với các phân tử mỡ tập hợp ở trung tâm của hạt mixen trong khi các nhóm cực cùa muôi mật quay ra phía ngoài trên bề mặt của hạt mixen. Các nhóm cực tích điên âm làm cho các hạt mixen hoà tan và giữ được dạng ổn định trong nhũ trấp. Trong quá trình tiêu hóa triglycerid, các nhóm kỵ nưốc nhân tử monoglycerid và acid béo vừa được tạo ra hoà tan ngay vào trung tâm của hạt mixen, do đó làm giảm nồng độ của chúng ở vùng lân cân các hạt cầu mỡ đang được tiêu hóa và không ảnh hưởng đến tôc độ thuy phân md. Nhưng hạt mixen vận chuyên các phân tử monoglycerid và acid béo đên diêm bàn chai cua tê bào biêu mô ruột. Ớ đó monoglycerid và acid béo được hâp thu. Các hạt mixen quay trơ lại lòng ruột để tiêp tục vận chuyển các phân tử mỡ khác. Nếu không có muôi mật trong ruột non, trên 40% lipid bị mất theo phân, bệnh nhân bị rôl loạn chuyển hóa do mất mõ. 4.3.2.6. Tuần hoàn ruột- gan của mật Sô lượng muôi mật trong cơ thể thấp hơn rất nhiều so vổi sô muốỉ mật cần cho sự tiêu hóa và hấp thu mỡ. Trong một bữa ăn bình thường, lượng muối mật được bài xuất vào tá tràng nhiều gấp đôi số lượng IĨ1UỐỈ mật của cơ thể. Tuần hoàn ruột - gan của muôi mật nghĩa là sự tái tuấn hoàn của muôi mật giữa ruột và gan cho phép cơ thể tái sử dụng muôi mật nhiều lần Sau khi tham gia vào quá trình tiêu hóa và hấp thu mỡ, khoảng 94% muối mật được tái hấp thu tích cực qua niêm mạc hồi tràng rồi theo tĩnh mạch cửa về gan. Tại đây toàn bộ muôi mật được hấp thu vào các tế bào gan rồi lại được bài tiết vào ống mật. Bằng cách này trên 90% muối mật được đưa trở lại gan. Một sô" lượng nhỏ muôi mật (khoảng 5%) đào thải theo phân sẽ được thay thế bởi những muối mật mới được sản xuất ra liên tục ở gan. 4.3.2.7. Sự bài tiết cholesterol và sự hình thành sỏi mật Các tế bào gan sản xuất muổì mật từ cholesterol. Trong quá trình bài tiết muôi mật, khoảng 1/10 cholesterol cũng được bài tiết theo mật (1-2 gam một ngày). Trong mật, cholesterol không có chức năng gì, nó đơn giản chỉ là một sản phẩm phụ trong quá trình sản xuất và bài tiết muối mật. Cholesterol không hoà tan trong nưốc nhưng được giữ trong các hạt mixen. Trong quá trình cô đặc mật ở túi mật, muôi mật, lecithin được cô đặc cùng vối cholesterol và giữ cholesterol trong dung dịch. Nếu có quá nhiều cholesterol so với muổỉ mật và lecithin, cholesterol có thể bị kết tủa tạo thành sỏi mật. 4.3.3. Dịch ruột 4.3.3.1. Các tuyến của ruột non Mỗi ngày các tuyến Brũnner và tuyến Lieberkiihn bài tiết khoảng 1800 ml dịch ruột. Dịch ruột gồm nước, các chất điện giải, chất nhầy và các tế bào bị bong ra. pH dịch ruột từ 7,5 đên 8. - Tuyến Brủnner khư trú ở đoạn đầu tá tràng và bài tiết chất nhầy khi: + Thức ăn kích thích niêm mạc tá tràng. + Kích thích dây X. + Có mặt hormon secretin. Chất nhầy có tác dụng bảo vệ thành tá tràng khỏi tác dụng tiêu hóa của dịch vị. Các tuyến Briinner bị ức chế bởi cốc kích thích giao cảm, như vậy có nghĩa là kích thích giao cảm làm cho hành tá tràng mất cờ chê hảo vệ, có thể đó là một trong những yếu tố làm cho hành tá tràng dễ bị loét hơn các nơi khác (chiếm tỷ lệ 50%). - Các hốc Lieberkiihn khư trú trên toàn bộ bề mặt của ruột non năm giữa các nhung mao. Bề mặt của hốc Lieberkuhn và của nhung mao được bao phủ bởi một lớp biêu mô gồm hai loại tế bào: một sô ít tế bào có chân bài tiết chât nhầy và một sô lượng lớn tê bào ruột. Các tê bào ruột trong hốc Lieberkiihn bài tiết nhiều nước và chất điện giải trong khi các tế bào ruột trên bê mặt nhung mao có chức năng tái hấp thu nước, chất điện giải cùng các sản phẩm tiêu hóa cuôi cùng. 4.3.3.2. Cơ chê bài tiết dịch ruột Các ion cr được bài tiết từ tê bào vào hốc Lieberkũhn theo cơ chê vận chuyên tích cực, Na+ khuếch tán thụ động theo ion Cl'. Ion HC03 cũng được bài tiết tích cực vào hôc Lieberkủhn. Sự vận chuyển của các ion này tạo ra một áp lực thâm thấu kéo nưốc từ dịch ngoại bào vào hốc. Sau khi được bài tiêt vào hôc Lieberkũhn, dịch ruột nhanh chóng được tái hấp thu vào máu qua các nhung mao tạo ra một phương tiện để hấp thu các chất từ lòng ruột vào máu khi nhũ trấp tiếp xúc với nhung mao. Dịch ruột cũng đóng vai trò quan trọng trong việc giữ cho nhũ trấp ỏ dạng lỏng. Độc tô" của vi khuẩn tả làm tăng quá trình vận chuyển tích cực của ion cr do đó làm cho tốc độ bài tiết dịch vào hốc Lieberkủhn tăng lên nhiều lần. Trong ngày đầu tiên, bệnh nhân có thể mất từ 5 đến 10 lít dịch khỏi ống tiêu hóa. Sự mất quá nhiều nước gây sốc tuần hoàn có thể dẫn đến tử vong trong vài giờ. 4.3.3.3. Điều hoà bài tiết dịch ruột - Cơ chế thần kinh: Cơ chế thần kinh đóng vai trò quan trọng. Sự có mặt của nhũ trấp trong ruột non sẽ gây ra các phản xạ ruột tại chỗ để kích thích bài tiết dịch ruột. Lượng nhũ trấp càng lớn thì dịch ruột được bài tiết càng nhiều. - Cơ chê hormon: Các hormon secretin, cholecystokinin cũng kích thích bài tiết dịch ruột. Chức năng hấp thu và chức năng bài tiết dịch của ruột độc lập với nhau và có những cơ chế kiểm soát khác nhau, do đó chức năng hấp thu có thể vẫn diễn ra bình thương khi chức năng bài tiết bị kích thích quá mức do độc tố vi khuẩn. 4 3 3.4. Các enzym tiêu hóa của dịch ruột Các tế bào biểu mô của niêm mạc ruột, đặc biệt là diềm bàn chải của các tế bào biểu mô của nhung mao chứa một số enzym tiêu hóa. Chúng xúc tác cho quá trình thuỷ phân của thức ăn ở mặt ngoài các vi nhung mao thành những sản phẩm cuối cùng có the hấp thu được rồi đi qua tế bào bieu mô vào máu Cac enzym ỏ diềm bàn chải của tê bào biếu mô ruột gồm: Enzym tiêu hóa protid: Các enzym aminopolypeptidase và dipeptidasíỉ thuỷ phân polypeptid thành tripeptid, dipetid và một ít acid ainin. Các phân tử này được vận chuyên dê dàng qua màng vi nhung mao vào bên trong tê bào. Trong bạo tương cua tê bào ruột có nhiều enzym peptidase. Dưới tác dụng cua các peptidase này tất cả tripeptid và dipeptid được thuỷ phân thành acid arnin trong vòng vài phút. - Enzym tiêu hóa lipid: Một sô lipase ruột non phân giải triglycerid thành glycerol và acid béo. Do sô lượng ít nên tác dụng của lipase ruột non không quan trọng. - Enzym tiêu hóa glucid gồm: + Isomaltase thuỷ phân oligosaccharid thành glucose. + Maltase thuỷ phân maltose và maltotriose thành glucose. + Sucrase thuỷ phân sucrose thành glucose và ửuctose. + Lactase thuỷ phân lactose thành glucose và galactose. Một số người không có enzym lactase, hay gặp ở những người Mỹ gốc Phi, ngưòi Ả Rập, ngưòi Hy Lạp... Những người này thường bị chứng không dung nạp lactose (lactose intolerance). Lactose không được thuỷ phân bị giữ lại trong ruột và kéo nước vào ruột. Sau đó các vi khuẩn ruột già sẽ phân giải lactose thành acid lactic, C02 và khí hydrogen gây đầy bụng và chưống bụng. Sự căng thành ruột làm tăng nhu động ruột cộng vối tác dụng thẩm thâu của acid lactic và các lactose không được tiêu hóa sẽ gây ỉa chảy. Có thể khắc phục chứng không dung nạp lactose bằng cách tránh dùng các sản phẩm sữa hoặc xử lý sữa bằng lactase trước khi uống hoặc uông các viên lactase cùng với sữa. 4.3.4. Kết quả tiêu hóa ở ruột non Nhờ các enzym tiêu hóa của dịch tụy, dịch ruột và muôi mật, các thức ăn protein, glucid, lipid được tiêu hóa thành những sản phẩm cuôl cùng có thể hấp thu được là các acid amin, các monosaccharid (chủ yếu là glucose), acid béo, glycerol.

    x

  • 16

    4.4. Sự hấp thu ở ruột non Có khoảng 8 đến 9 lít dịch được hấp thu mỗi ngày bao gồm các dịch tiêu hóa (7 lít) và dịch của thức ăn, đồ uống đựa vào. Khoảng 7,5 lít dịch được hấp thu ỏ ruột non, 1,5 lít còn lại sẽ qua van hồi manh tràng để xuống ruột già. Sự hấp thu xảy ra chủ yếu ỏ ruột non vĩ những lý do sau: - Diện tích hấp thu ở ruột non rất lớn (từ 250 đến 300 m2) nhò các cấu trúc đặc biệt của niêm mạc ruột non, các nếp gấp, nhung mao, vi nhung mao làm tăng diện tích hấp thu của niêm mạc ruột lên gấp hơn một ngàn lần. Ngoài ra diểm bàn chải của tế bào biểu mô ruột có nhiều enzym tiêu hóa và các loại protein mang khác nhau giúp cho sự vận chuyên các chât vào tế bào. - Chỉ ở ruột non các chất dinh dưỡng mối được tiêu hóa triệt để thành những sản phẩm cuối cùng có thể hấp thu được. 4.4.1. Hấp thu glucid Ị Tất cả monosaccharid trong ruột non được hấp thu hoàn toàn qua các tế bào biêu mô ỏ đoạn cuôi hỗng tràng. - Hấp thu của glucose và galactose + Từ lòng ruột, glucose được vận chuyến qua diềm bàn chải vào tế bào bieu mô theo cơ chế vận chuyển tích cực thứ phat (đong vận chuyển với Na ). Glucose đi vào tê bào làm nồng độ glucose trong tê bào tăng cao rồi glucose khuech tan qua màng đáy bên của tê bào để vào máu theo cơ chê khuêch tán thuận hoa. Toc độ hấp thu tối đa của glucose là 120 gam/giò. + Galactose cũng được vận chuyển vào tế bào bởi cùng một protein mang, do đó nó cạnh tranh vói glucose để được hấp thu. - Hấp thu của íructose: íructose được vận chuyển vào tế bào theo cơ chế khuếch tán thuận hóa. Ở trong tế bào írúctose được chuyển thành glucose rồi vào máu theo cơ chế khuếch tán thuận hóa. 4.4.2. Hấp thu protein Sản phẩm tiêu hóa cuối cùng của protein ồ ruột non là tripeptid, dipepid và một ít acid amin. Các protein mang đặc hiệu khu trú ở diềm bàn chải vận chuyển các peptid cùng với các ion H+ vào trong tế bào ruột theo cơ chế đồng vận chuyển (vận chuyển tích cực thứ phát). Các dipeptid và tripeptid vào nội bào được chuyển ngay thành acid amin dưói tác dụng của các peptidase nội bào, sau đó các acid amin vào máu theo cơ chế khuếch tán thuận hóa. Các acid amin được hấp thu chậm hơn các peptid. Có 6 loại chất mang khác nhau trên diềm bàn chải để vận chuyển 6 loại acid amin tương ứng vào tế bào theo cơ chế đồng vận chuyển với Na+. Sau đó các acid amin sẽ qua màng đáy - bên vào máu theo cơ chế khuêch tán thuận hóa. Sự hấp thu acid amin xảy ra rất nhanh ở tá tràng và hỗng tràng nhưng chậm lại ở hồi tràng. Khoảng 15% protein trong thức ăn sẽ đi xuống ruột già và được tiêu hóa dưối tác dụng của vi khuẩn. Các protein trong phân la protein nội sinh trong ống tiêu hóa (vi khuẩn, chất nhầy, enzym tiêu hóa và các tê bào ruọt non bị bong ra). Ở trẻ em, một sô' protein chưa được tiêu hóa cũng có thể được hấp thu vào máu theo cơ chê ẩm bào. Ví dụ, các protein kháng thể từ sữa non của mẹ có thể được hấp thu vào máu tạo ra miên dịch thụ động giúp trẻ chống lại các tắc nhân gây bệnh. Do trẻ em có thê hấp thu các phân tử protein chưa được tiêu hóa các protein kháng nguyên vào hệ thông tuân hoàn sẽ kích thích tạò kháng thể và phản ứng kháng nguyên - kháng thê có thê gây các triệu chứng dị ứng Di ứng vói thức ăn sẽ mất dần khi trẻ lớn lên. 4.4.3. Hấp thu lỉpid (hỉnh 11.7) Sản phẩm tiêu hóa cuối cùng của mỡ trung tính là acid béo và monoglycerid. cả hai được hoà tan trong phần lipid trung tam cua cac hat mixen. Các hạt mixen vận chuyên acid béo và monoglycerid đến diem bàn chai rôi giai phóng chúng và quay lại lòng ruột tiếp tục vộn chuyển các phân tư mờ khác. Tại diềm bàn chải, do có độ hoồ tan trong mè cao nên các acid béo và monoglycend de dàng khuếch tán qua lớp lipid kép của mồng tế hào cỉê vàơ bọn trọng tê bào biêu mô. Trong mạng nội bào tương trơn, acid béo và monoglyceríd lại tái kêt hợp đê tạo thành triglycerid, Ngoài ra, một sô monoglyccrid được phân giai thành acid béo và glycerol dưới tốc dụng của enzym lipase của tệ bào biêu mô, glycerol được hấp thu vào máu còn acid béo được đưa vào mạng nội bào tương đê tái tạo triglycerid. Các triglycerid mới được tạo thành, các cholesterol được tái ester hóa và các phospholipid kết tụ lại thành các hạt cầu mỡ. Cuối cùng, các phân tử apolipoprotein được gắn lên bể mặt hạt cầu mỡ tạo thành các hạt lipoprotein có đưòng kính từ ioo đến 500 nanomet gọi là chylomicron. Chylomicron được gói vào trong các túi bài tiết rồi bị đẩy ra khỏi tế bào qua màng đáy- bên bằng cơ chế xuất bào (exocytosis). Từ khoảng kẽ giữa các tế bào, chylomicron đi vào các ống bạch huyết trung tâm rồi theo hệ bạch mạch qua ống ngực đổ vào tĩnh mạch dưới đòn. Khoảng 80 đến 90% mỡ trong ông tiêu hóa được hấp thu dưới dạng chylomicron. Các phân tử apolipoprotein đóng vai trò quan trọng trong cơ chế xuất bào của các chylomicron, chúng giúp các hạt cầu mỡ gắn vào màng tế bào rồi mới bị đẩy ra ngoài. Những người bị bệnh di truyên không có khả năng tổng hợp apolipoprotein thì các tế bào biểu mô ruột sẽ chứa đầy mỡ do quá trình xuất bào không thực hiện được. Các acid béo mạch ngắn (từ 6 đến 12 C) không tham gia vào quá trình tái tạo triglycerid trong mạng nội bào tương sẽ được hấp thu trực tiếp vào hệ mạch cửa. Nếu ăn một lượng mõ vừa phải thì khoảng trên 95% mỡ tiêu hóa sẽ được hấp thu. Các hormon vỏ thượng thận làm tăng sự hấp thu mỡ vào hệ bạch mạch nhưng không ảnh hưởng đến sự hấp thu các acid béo mạch ngắn vào tĩnh mạch cửa. Rối loạn hấp thu mỡ có thể do những nguyên nhân sau: (1) cắt dạ dày nên mỡ không được nhũ tương hóa hoàn toàn, (2) Bệnh của tụy nên thiếu lipase tụy, (3) Bệnh của gan nên thiếu muối mật, (4) Bệnh của ruột non nên diện tích hấp thu giảm, sự tạo ra các chylomicron giảm 4.4.4. Hấp thu vltarnin - Các vitamin tan trong mờ (A, D, E, K) được hấp thu KÌônK như cơ chế hấp thu của cốc phốn tử mâ. - Cốc vitamin tan trong nước (vitumin nhỏm B, acid f()Iíc, vitamin c...) được hấp thu nhanh theo cơ chế khuếch tủn vồ cơ chố vộn chuyển tích cực, Riêng vitamin B,2 được hấp thu theo một cơ chế độc biệt: ỏ dọ dồy dưới tác dụnK của HC1 và pepsin, vitamin B,2 được giải phóng khỏi protein thức An. Sau đó vitnmin ®12 với haptocorrin, một glycoprotein có trong nước bọt được nuot cùng với thức ản vào dạ dày. Ở tá tràng, haptocorrin bị các enzym protease của dịch tụy tiêu hóa nên B12 sẽ gắn với yếu tô" nội đi theo dịch vị xuống tá tràng. Phức hợp yêu tô nội - vitamin B12 chống lại được tác dụng tiêu hóa của các protease tụy. ở đoạn cuối hồi tràng, phức hợp B12 - yếu tố nội gắn vói các receptor ỏ diềm bàn chải của tê bào ruột rồi vào tê bào bằng quá trình nhập bào (endocytosis) sau đó được hâp thu vào máu. Trong máu, vitamin B12 gắn với protein mang là transcobalamin rồi được vận chuyển đến tuỷ xương, đến gan và thận. 4.4.5. Hấp thu nước và các chất điện giải 4.4.5.1. Hấp thu nước Nước được vận chuyển qua màng ruột theo lực thẩm thấu. Khi nhũ trấp bị pha loãng, nước được hấp thu qua niêm mạc ruột vào các mạch ỏ nhung mao theo cơ chế khuếch tán thẩm thấu. Nước cũng có thể được vận chuyển theo hướng ngược lại. Ví dụ, khi các dịch ưu trương từ dạ dày xuống tá tràng, nưốc sẽ từ huyết tương vào tá tràng và chỉ sau vài phút nhũ trấp trở thành đẳng trương với huyết tương. Khi các chất hoà tan (các ion và các chất dinh dưỡng) được hấp thu từ lòng ruột vào máu, áp suất thẩm thấu của nhũ trấp giảm đi, một lượng nưốc tương đương sẽ khuếch tán qua các “mối nối” giữa hai tế bào biểu mô ở cực đỉnh để vào khoảng kẽ tê bào rồi vào máu, do đó giữ cho nhũ trấp luôn đẳng trương vối huyết tương. 4.4.5.2. Hấp thu ion Na* và cl Mỗi ngày có khoảng 20 đến 30 gam Na+ được bài tiết vào các dịch tiêu hóa. Người ta ản khoảng 5-8 gam Na+ mỗi ngày. Khoảng 0,5% Na+ ở ruột được bài xuất theo phân. Như vậy, mỗi ngày ruột non phải hấp thu 25 đến 35 gam Na+. Trong các trường hợp nôn hoặc ỉa chảy nặng, quá nhiều Na+ của dịch tiêu hóa bị mất ra ngoài, dự trữ Na+ của cơ thể bị giảm nặng có thể gây tử vong trong vài giờ. _ Quá trình hấp thu Na+ diễn ra như sau: ở màng đáy - bên của tế bào biểu mô, bdm Na* - K*. ATPase bdm Na* từ tế bào ra khoang kẽ giữa hai tế bào làm cho nồng độ Na+ ở bên trong tế bào giảm rất thấp (khoảng 50 mEq/L) trong khi nong độ Na4 của nhũ trấp là 142 mEq/L, do đó Na* sẽ khuếch tán theo bậc thang điện hóa từ lòng ruột qua diềm bàn chai vào các tế bào ruột kéo theo glucose, galactose, các acid amin, cr theo cơ chế đồng vận chuyển. Từ tế bào, Na+ lại được bơm ra khoảng kẽ. cr cũng được khuếch tán từ tế bào ra khoảng kẽ theo Na* để trung hoà điện tích. Nồng độ của Na+ và cr trong dịch kẽ tăng lên tạo ra một bậc thang thẩm thấu để kéo nước từ lòng ruột vào khoảng kẽ. Sau đó ca Na , C1 và nước vào máu tuần hoàn của nhung mao. - Sự hấp thu Na+ chịu ảnh hưởng của hormon aldosteron của vỏ thượng thận. Aldosteron vừa làm tăng hấp thu Na+ và nước ở ruột vừa làm tăng tái hâp thu Na+ và nước ở ống thận. 4A.5.3. Hấp thu ion HCO3- lon HC03- được hấp thu ở tá tràng và hỗng tràng một cách gián tiếp: Khi Na+ được vận chuyển vào tế bào, ion H+ được bài tiết vào ruột theo cơ chế trao đổi ion Na+/ H+. Trong ruột, H+ kết hợp với HC03“ thành H2C03, sau đó H2C03 phân ly thành H20 và C02, H20 ở lại lòng ruột như một thành phần của nhũ trấp còn C02 được hấp thu vào máu rồi đào thải qua phổi. 4.4.5.4. Hấp thu các ion khác - Hấp thu ion Ca2+: Ca2+ được hấp thu tích cực ở tá tràng theo nhu cầu của cơ thể: ion Ca2+ được khuếch tán qua các kênh calci nằm ở diềm bàn chải để vào tế bào. Trong tế bào Ca2+ gắn với calbindin. Sự gắn này làm giảm nồng độ ion Ca2+ nội bào và calbiriđin vận chuyển Ca2+ đến màng đáy - bên của tế bào. Tại đây bơm Ca2+-ATPase sẽ bơm Ca2+ vào máu. Parathormon của tuyến cận giáp hoạt hóa 25 - hydroxy cholecalciferol thành 1,25 dihydroxy cholecalciíerol ở thận rồi sẽ theo máu đến ruột làm tăng hấp thu Ca2+ ở ruột. - Ion Fe2+ được hấp thu tích cực theo nhu cầu cơ thể. - Các ion K+, Mg2+ , HP042 và các ion khác được hấp thu qua niêm mạc ruột theo cơ chế tích cực. Nhìn chung, các ion hóa trị 1 được hấp thu dễ dàng vối một sô' lượng lổn. Ngược lại, các ion hóa trị 2 chỉ được hấp thu rất ít. Tuy nhiên, nhu cầu của cơ thể với các ion hóa trị 2 cũng rất thấp.

    x

  • 17

    5. TIÊU HÓA ở RUỘT GIÀ Chức năng chủ yếu của ruột già là hấp thu nước, các chất điện giải và giử phân trong ruột già cho đến khi phân được đẩy ra ngoài. Mỗi ngày có khoảng 1000 đên 2000 ml nhũ trâp đăng trương từ hồi tràng đi vào ruột già. Ruột già hấp thu trên 90% lựợng dịch để tạo ra khoảng ‘200 đến 250 ml chất phán nửa rắn. Một số vitạmin cũng được hấp thu ỏ ruột già, một số vitamin khác được các vi khuân ruột gia tong hợp.

    x

  • 18

    5.1. Hiện tượng cơ học ở ruột già 5.1.1. Các co bóp của ruột già Các co bóp của ruột già gồm co bóp nhào trộn và co bóp đẩy. — Co bóp nhào trộn của ruột già tương tự như co bóp phân đoạn ở ruột non và diên ra như sau: các cơ vòng của một đoạn ruột dài khoảng 2,5 cm co lại đông thòi với sự co của ba dải cơ dọc của đoạn ruột đó. Sự co bóp phối hợp của cả cơ vòng và cơ dọc làm cho các đoạn ruột không co phình ra phía ngoài giông như hình ảnh các túi nhỏ. Trên phim Xquang của ruột già người ta gọi đó là các rãnh ngang ruột già (haustration). Co bóp rãnh ngang đạt cường độ mạnh trong vòng 30 giây rồi mất đi trong 60 giây tiếp theo, sau đó một co bóp rãnh ngang mới lại xuất hiện. Nhờ co bóp này thức ăn được nhào trộn và tiếp xúc vối niêm mạc ruột già để làm tăng hấp thu. - Co bóp đẩy (co bóp khôi). Ở ruột già, các sóng nhu động hiếm khi xảy ra. Tác dụng đẩy thức án ở manh tràng và đại tràng lên là do co bóp rãnh ngang. Co bóp này cần khoảng thòi gian từ 8 đến 15 giờ mới đẩy được nhũ trấp từ manh tràng đến đại tràng ngang. Từ đại tràng ngang đến đại tràng sigma, tác dụng đẩy thức ăn do các co bóp khối đảm nhiệm. Co bóp khối là một hình thức đặc biệt của nhu động diên ra như sau: đầu tiên một vòng co bóp xuất hiện ở một điểm bị căng ra của đại tràng ngang rồi một đoạn ruột dài khoảng 20 cm ở ngay phía dưới sẽ co bóp như một đơn vị ép chất phân bên trong thành một khôi và đẩy nó dọc theo ruột già. Co bóp khôi mạnh lên trong khoảng 30 giây rồi giãn ra trong hai, ba phút tiếp theo, sau đó một co bóp mới xuất hiện. Chuỗi co bóp khối chỉ hoạt động trong khoảng 10 phút đến nửa giờ. Nửa ngày hay một ngày sau chúng lại xuất hiện. Khi co bóp khối đẩy phân vào trực tràng người ta có cảm giác muôn đại tiện. Sau bữa ăn, các co bóp khôi được gia tăng nhờ các phản xạ dạ dày-ruột già hoặc tá tràng - ruột già thông qua dây X. Sự kích thích của ruột già cũng có thể làm xuất hiện các co bóp khôi. Những người bị loét ruột già​lúc​nào​cũng​có co bóp khôi làm họ luôn có cảm giác muốn đại tiện. 5 1.2. Động tác đại tiện Thông thương, ơ trực trang không có phân vì giữa đại tràng sigma và trực tràng có một cơ thắt ở cách hậu môn khoảng 20 cm. Khi các co bop khối đẩy phân vào trực trang, ngươi ta muôn đại tiện do sư co phản xa của triic trang và sự giãn cơ thắt hậu môn. Sự đẩy liên tục của phân qua hậu môn bị cản lại do các cơ thắt hâu môn ỏ trạng thái co trương lực. Có hai cơ thắt hậu môn: cơ thắt trong là cơ trơn va cd thắt ngoài (năm bao quanh cơ thắt trong) là cơ vân. Cơ này do​dây​thần​kinh thẹn chi phối, tức là cơ chịu sự kiếm soát có ý thức. Các phản xạ đại tiện gồm: - Phản xạ nội sinh: Khi phân vào trực tràng, thành trực tràng bị căng ra, các tín hiệu kích thích truyền vào đám rối Auerbach, các sóng nhu động đi đên gần hậu môn ức chế cơ thắt trong làm cơ này giãn ra. Nếu lúc ấy cơ thắt ngoài cũng giãn ra thì sẽ xảy ra động tác đại tiện. Những phản xạ nội sinh thường yếu và phải được tăng cường bằng phản xạ ngoại sinh gọi là phản xạ tốhg phân phó giao cảm. - Phản xạ tông phân phó giao cảm: Khi dầy thần kinh đến trực tràng bị kích thích, các tín hiệu được truyền về tuỷ sống rồi theo các sợi phó giao cảm trong dây thần kinh chậu đến đại tràng xuống, đại tràng sigma, trực tràng và hậu môn. Các tín hiệu phó giao cảm này làm tăng các co bóp của ruột già và làm giãn các cơ thắt hậu môn, kết quả là chuyển phản xạ nội sinh từ một phản xạ yếu, không hiệu quả thành một quá trình tống phân rất mạnh. Những tín hiệu thần kinh truyền vào tuỷ sông còn gây ra các tác dụng khác như hít sâu, đóng thanh môn, co cơ thành bụng để đẩy phân xuống đồng thời đẩy đáy chậu xuống dưối và kéo cơ vòng hậu môn ra ngoài để tống phân ra (động tác rặn).

    x

  • 19

    5.2. Sự bài tiết ở ruột già 5.2. Sự bài tiết ở ruột già 5.2.1. Bài tiết chất nhầy Niêm mac ruột già không có nhung mao nhưng có nhiều hốc Lieberkũhn. Các tế bào biểu mô chủ yếu là các tế bào nhậy bài tiết chất nhầy. Dịch ruột già cũng chứa một số lượn£ lốn bicarbonat, ion này được vận chuyển tích cực từ máu qua các tế bào biểu mô nằm giữa những tế bào nhầy để vào ruột. Chất nhầy được bài tiết khi thức ăn chạm vào các tế bào nhầy hoặc do tế bào nhầy bị kích thích bồi phản xạ ruột tại chỗ hoặc do dây thần kinh chậu (phó giao cảm). Chất nhầy bảo vệ thành ruột khỏi bị trầy xưốc, khỏi tác hại của các vi khuẩn có rất nhiều trong phân và làm cho phân dính lại vổi nhau. Bicarbonat làm cho dịch ruột càng thêm kiềm, tạo ra một hàng rào chông lại các acid được hình thành trong phân. 5.2.2. Bài tiết nước và các chất điện giải Khi một đoạn của ruột già bị kích thích (ví dụ như viêm ruột cấp), niêm mạc ruột già bài tiết một sô" lượng lớn nước và các chất điện giải để pha loãng các yếu tố gây kích thích và đẩy nhanh phân về phía trực tràng. Kết quả là bệnh nhân bị ỉa chảy, mất nước và các chất điện giải. Nhưng ỉa chảy cũng giúp đẩy hết các yếu tố gây kích thích khỏi cơ thể và làm bệnh nhân chóng khỏi bệnh.

    x

  • 20

    5.3. Sự hấp thu ở ruột già Hấp thu xảy ra ỏ nửa đầu của ruột già. Khả nảng hấp thu của niêm mạc ruột già rất lốn. Ion Na+ được hấp thu vào máu theo cơ chê tích cực, kéo theo ion C1 đe trung hoà điện. Dung dịch NaCl (natriclorua) tạo ra lực thẩm thấu để kéo nưóc từ ruột vào máu. Niêm mạc ruột già cũng bài tiết tích cực ion HCCV đồng thời hấp thu một lượng nhỏ ion cr để trao đổi với ion bicarbonat.

    x

  • 21

    5.4. Tác dụng của vi khuẩn ở ruột già Rất nhiều vi khuẩn có mặt ở phồn dổu ruột già. Dưới tác dụng của vi khuân, một số vitamin được tạo rá như vitamin K, vitamin Bn, thiamin, nboAavin. Một số khí cũng flinh hơi trong ruột già. Vitamin K đặc biệt quan trọng vi lượng vitamin K trong thức ăn không đủ để duy trì một quá trình đong máu thích hợp.

    x

  • 22

    5.5. Thành phần của phân Phân gồm 3/4 là nước, 1/4 là chất rắn. 30% chất rắn là chất vô cơ, 2 đến 3% là protein, 30% là chất xơ của thức ăn khồng tiêu hóa được, săc to mật, te bào ruột non bị bong ra. Màu nâu của phân là do stercobilin và urobílin - những dân chất của bilirubin. Mùi của phân là do các chất indol, scatol, merkaptan, hydrogensulfur là các sản phẩm của vi khuẩn.

    x

  • 23

    6. Những rối loạn lâm sàng của ống tiêu hóa

    x

  • 24

    6. NHỮNG RỐI LOẠN LÂM SÀNG CỦA ÔNG TIÊU HÓA 6.1. Loét dạ dày - tá tràng Loét dạ dày - tá tràng là bệnh phổ biến trên toàn thế giới cũng như ở Việt Nam. Loét dạ dày-tá tràng là tổn thương niêm mạc dạ dày - tá tràng do HC1 và pepsin gây ra. Tổn thương loét có thể lan tới lớp cơ niêm hoặc xa hơn, có thê chạm tới các mạch máu gây chảy máu. Loét có thể làm thủng thành ống tiêu hóa, khi đó thức ăn, dịch tiêu hóa và vi khuẩn qua lỗ thủng thoát vào khoang màng bụng gây hậu quả nghiêm trọng. Tác dụng ăn mòn của acid và tác dụng tiêu hóa của pepsin đóng vai trò chính trong sự phát triển của bệnh nhưng sự tạo thành ổ loét không phải hoàn toàn do sự hoạt động quá mức của hai yếu tô' này. Ổ loét sẽ phát triển nếu cơ chế bảo vệ niêm mạc bị rối loạn. Loét tá tràng hay gặp nhất (chiếm 50%). Bệnh nhân bị loét tá tràng thường có sự tăng bài tiết acid, vị trấp thoát xuống tá tràng quá nhanh hoặc nồng độ bicarbonat trong tá tràng quá ít. Loét dạ dày ít gặp hơn và thường do cơ chế bảo vệ niêm mạc bị rối loạn. Ngày nay người ta đã thừa nhận vi khuẩn Helicobacter pylori (HP) đóng vai trò quan trọng trong loét dạ dày-tá tràng. Năm 1983, lần đầu tiên hai nhà nghiên cứu người úc đã tìm thấy HP trong các mẫu sinh thiết niêm mạc dạ dày của bệnh nhân bị viêm dạ dày cấp tính hoặc bị loét dạ dày-tá tràng. HP khư trú trong lốp gel nhầy bao phủ niêm mạc dạ dày, do đó chúng được bảo vệ khỏi acid và pepsin của dịch vị. Tất cả bệnh nhân bị loét tá tràng và khoảng từ 75 đến 85% bệnh nhân loét dạ dày bị nhiêm HP. HP có tác dụng phá vỡ hàng rào bảo vệ niêm mạc và kích thích tế bào viền bài tiết HC1. Trong phác đồ điều tri loét dạ dày - tá tràng, người ta thường dùng kháng sinh để diệt trừ HP kết hợp VỐI cắc thuốc làm giảm bài tiết HC1 như các thuốc ức chế receptor H2 của tê bào viền (cimetidin, ranitidin, famotidin) hoặc thuốc ức chế bơm proton (omeprazol) và các thuốc bảo vệ niêm mạc, băng ổ loét (sucralíat, gel alumin ) Cũng cần lưu ý rằng tình trạng quá căng thẳng về tâm lý do những chấn thương tinh thần và tình cảm cấp, mạn hoặc những rối loạn về nhip điêu và tính chât cua thức ăn (rUỢu, thưôc lá, các chất chua cay, suy dinh dưỡng...) <ỉéu là những yếu tố thúc đẩy bệnh phát triển.

    x

  • 25

    6.2. Táo bón Táo bón là sự vận chuyển chậm chạp của phân qua ruột già thường kèm theo sự ứ đọng một lượng khá lớn phân khô và rắn ở đại tràng ngang vì phân bị giữ lại ỏ ruột già quá lâu nên nưốc được hấp thu gần hết. Nguyên nhân hay gặp của táo bón là do thói quen ức chế những phản xạ đại tiện bình thường. Trẻ sơ sinh hiếm khi bị táo bón nhưng trong những nám đầu của cuộc đời, các cháu thường bị bắt nhịn mỗi khi các cháu muôn đi đại tiện. Kinh nghiệm lâm sàng cho thấy nếu ngưòi ta không được phép đại tiện môi khi phản xạ đại tiện bị kích thích hoặc khi người ta lạm dụng các thuốc nhuận tràng để thay thế cho chức năng tự nhiên của ruột già thì cùng với thời gian các phản xạ sẽ yếu dần đi và ruột già sẽ bị mất trương lực. Do đó, nếu một người tập được thói quen đi đại tiện vào buổi sáng sau bữa điểm tâm là lúc các phản xạ dạ dày - ruột già, tá tràng - ruột già gây ra các co bóp khối ồ ruột già thì sẽ không bị táo bón.

    x

  • 26

    6.3. ỉa chảy ỉa chảy là sự vận động quá nhanh của chất phân trong ruột già do nhiễm khuẩn hoặc nhiễm virus đường tiêu hóa. Quá trình viêm nhiễm thường lan rộng ở ruột già và phần cuối của hồi tràng. Do niêm mạc bị kích thích, các tuyến tăng cường bài tiết, vận động của ruột cũng tăng lên nhiều lần. Ruột bài tiết một lượng dịch rất lớn để cuốn đi các tác nhân gây bệnh và ruột co bóp rất mạnh đẩy dịch về phía hậu môn.

    x

  • 27

    6.4. Nôn Khi đưòng tiêu hóa bị căng quá mức hoặc bị kích thích quá mức, đặc biệt là ở tá tràng thì nôn sẽ xảy ra để tống thức ăn ở phần trên đường tiêu hóa ra ngoài. Xung động theo dây X và dây giao cảm truyền về trung tâm nôn ỏ hành não (nằm gần nhân lưng vận động của dây X). Các xung động vận động truyền qua dây V, dây VII, dây IX, dây X, dây XII đến phần trên của ông tiêu hóa và theo các dây thần kinh tuỷ sống đến cơ hoành và các cơ thành bụng gây ra các tác dụng sau: (1) Hít vào thật sâu, (2) Nâng xương móng và thanh quản để kéo cho cơ thắt thực quản trên mở ra, (3) Đóng thanh môn, (4) Đóng lỗ mũi sau, (5) Co cơ hoành và co các cơ thành bụng làm cho áp suất bên trong dạ dày tăng lên, (6) Cơ thắt thực quản dưới giãn ra hoàn toàn, thức ản trong dạ dày bị đẩy qua thực quản ra ngoài. Như vậy, động tác nôn là do sự ép cua các cơ thành bụng lên dạ dày phổi hợp với sự mở đột ngột của các cơ thắt thực quản để tông thức ăn trong dạ dày ra ngoài. Kích thích gây nôn có thế xuất phát từ ống tiêu hóa nhưng cũng có thể xuất phát từ một vùng nhỏ nằm ỏ hai bên sàn nao thất IV gần vùng postrema gọi là vùng kích thích cảm thụ hóa học (chemoreceptor trigger zone). Kích thích điện vào vùng này sẽ gây nôn hoặc một số thuôc như apomorphin, morphin, các dân chât digitalis cũng có thế kích thích trực tiếp vào vùng này gây nôn. Ngoài ra sự thay đổi hướng chuyển động quá nhanh của cơ thể cũng làm một sô ngưòi bị nôn. Cơ chế như sau: chuyển động sẽ kích thích các receptor của mê cung, xung động truyền qua các nhân tiền đình vào tiểu não rồi đen vùng kích thích cảm thụ hóa học, cuối cùng đến trung tâm nôn và gây nôn. Một số kích thích tâm lý như nhũng bối cảnh gây lo lắng sợ hãi, những mùi kinh tởm, độc hại hoặc các yếu tô tâm lý tương tự cũng có thể gây nôn, cơ chế còn chưa rõ.

    x

  • 28

    7. GAN Gan chia thành nhiều thuỳ. Mỗi thuỳ gan được chia thành nhiều tiểu thuỳ. Bên trong tiểu thuỳ, máu chảy qua các tế bào gan nhờ những xoang tĩnh mạch từ các nhánh của tĩnh mạch đến tĩnh mạch trung tâm tiểu thuỳ. Máu của động mạch gan cũng chảy vào các xoang tĩnh mạch. Các tĩnh mạch trung tâm tiểu thuỳ đổ vào tĩnh mạch gan. Mỗi tế bào gan cũng áp vào một sô kênh mật nhỏ. Các kênh này hợp lại tạo ra ống gan phải và ống gan trái và khi ra khỏi gan thì hai ống lại hợp lại thành ống gan chung. Sau đó ống gan chung cùng với ống túi mật tạo thành ông mật chung đổ vào hành tá tràng qua lô Oddi có cơ thắt Oddi bao quanh. Gan là tuyến lớn nhất của cơ thể, có nhiều chức năng phức tạp. Các chức năng này được mô tả ở nhiều bài khác nhau của sách. Tóm tắt những chức năng chính của gan: - Gan là cơ quan dự trữ: Gan dự trữ glycogen, lipid, các protein, vitamin A, vitamin B12, máu và các chất tham gia vào quá trình tạo hồng cầu (xem Bài 7. Sinh lý máu). - Chức năng tổng hợp: Gan tổng hợp các protein huyết tương, íĩbrinogen, phức hệ protrombin, heparin... - Chức năng bài tiết mật (xem mục 4.3.2.1) - Chức năng tạo và phá huỷ hồng cầu (xem bài 7. Sinh lý Máu, mục 3.4) - Chức nảng chuyển hóa: Gan là trung tâm của các quá trình chuyển hóa glucid (đặc biệt là vai trò của glycogen gan và sự điều hòa đường huyết) chuyển hóa lipid và chuyển hóa protein (sẽ được trình bày trong môn Hóa Sinh). - Chức năng bảo vệ của gan: Gan tham gia bảo vệ cơ thể bằng cách- + Bằng các phản ứng liên hợp nghĩa là gắn một chất có hại hoặc dẫn chất của nó vói một phân tử hoặc một nhóm hóa học khác để tạo thành mot hơp chất bài xuất qua nưóc tiểu. * Liên hợp với sulfat (aulfoconjugaÌ8on): Nhiều hợp chốt phenol kết hợp vời sulĩat và được bài xuất dưới dạng sulíat ester. * Liên hợp với glycin: Nhiểu acid nhân thơm không được chuyển hóa trong cơ thể, phải kết hợp với glycin để được bài xuất. Ví dụ, acid benzoic được gan chuyển thành acid hippuric; acid phenolacetic kết hợp với glutamin... * Liên hợp với acid glucuronic: Thuốc hoặc hormon có nhóm OH (alcohol hoặc phenol) kết hợp với acid glucuronic để tạo thành glucuronid. Ví dụ, pregnanediol được gan chuyển thành pregnanediol glucuronid và bài xuất ra nước tiểu. * Liên hợp với acid acetic: Các acid amin nhân thơm kết hợp với acid acetic để tạo ra các dẫn xuất acetyl tương ứng rồi được bài xuất, ví dụ, sulfanilamid thành acetylsulfanilamid. + Bằng cách phá huỷ hoàn toàn: Nhiều chất lạ đôi với cơ thể bị phá huỷ hoàn toàn ở gan bằng phản ứng oxy hóa, ví dụ các alkaloid, strychnin, nicotin, các barbiturat tác dụng ngắn bị oxy hóa một phần bị khử ở gan.

    x

  • 29

    4.1. Đặc điểm cấu tạo của ruột non Ruột non gồm tá tràng, hỗng tràng và hồi tràng. Ở người trưởng thành, ruột non dài 280 cm, trong đó tá tràng dài 22 cm. Đoạn đầu của tá tràng gọi là hành tá tràng. Hành tá tràng dễ bị loét vì thường xuyên chịu sự tấn công của HC1 từ dạ dày đưa xuống. Dây chằng Treitz là ranh giới giữa tá tràng và hỗng tràng. Sự phân chia hỗng tràng và hồi tràng chỉ là quy ước vì thực tế không có ranh giới giải phẫu giữa hai đoạn này. Niêm mạc ruột non chứa những hạch bạch huyết đơn độc nhưng ở hồi tràng các hạch bạch huyết tập trung thành từng đám gọi là các mảng Payer. Niêm mạc ruột non (hình 11.4) có hai loại tuyến: (1) Tuyến Briinner nằm ở đoạn đầu tá tràng, bài tiết chất nhầy, kiềm, (2) Các hốc Lieberkũhn nằm giữa các nhung mao, có mặt trên toàn bộ niêm mạc ruột non. Các tế bào của hốc Lieberkủhn bài tiết một lượng rất lổn nước, các chất điện giải và một ít chất nhầy. Ruột non có một bề mặt hấp thu rất rộng nhờ những cấu trúc đặc biệt: nếp gấp, nhung mao, vi nhung mao. Niêm mạc ruột non có nhiều nếp gấp goi là nếp gấp Kerckring hoặc van nếp ngang. Các nếp gấp Kerckring làm tang bề mặt hấp thu lên khoảng 3 lần. Phủ lên toàn bộ niêm mạc ruột non từ cơ vòng Oddi đến van hồi manh tràng là hàng triệu nhung mao dài khoảng 1 milimét. Chúng nằm sát nhau và làm tăng bề mặt hấp thu lên khoảng 10 lần. Cuoi cung mỗi te bào biểu IĨ1Ô ruột có một diểm bàn chải với khoảng 1.000 vi nhung mao co đương kính 0,1 micromet và dài 1 micromet. Các vi nhung mao làm bề mặt hâp thu tăng thêm 20 lần nữa. Như vậy, các nếp gấp, nhung mao và vi nhung mao làm bề mặt hấp thu tăng lên 1000 lân, diện tích này vào khoảng 250m2 đến 300m2 Ở giữa mỗi nhung mao có một hệ thông mạch để hấp thu nước, các chất hoà tan vào tĩnh mạch cửa và một ống bạch huyết trung tâm để hấp thu mỡ. Bên trong mỗi vi nhung mao của diềm bàn chải có rất nhiều tơ actin. Tơ actin co từng đợt gây ra sự vận động liên tục của vi nhung mao giúp chúng luôn tiếp xúc với dịch ruột mới.

    x